13 Kho học liệu số dùng chung của Bộ Giáo dục

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

15 chuyên đề

Chủ đề năm học: 2025-2026:

KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LAI !.********* Với thông điệp: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là điều đáng quý". ```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````

Giới thiệu sách tháng 11

Bài hát: Trang sách mở ra thế giới

Bản tin

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tuần lễ áo dài

100 điều cần biết về phong tục thờ cúng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 10h:38' 02-04-2025
Dung lượng: 14.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
PHỌNG TỤC

THƠCỦNG
CỦA NGƯƠI VIẸT
Aiífc

100 DIÊU CẦN BIẾT
VÊ PHONG TỤC THỞ CÚNG CỦA NGƯỜI VIỆT

MINH ĐƯỜNG

100 Điểu
CẰN BIẾT VỂ

PHONG TỤC THỜ CÚNG CÙA NGƯỜI V IỆT

NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐÚC

LỜI NÓI ĐẨU
Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán truyền
thống riêng. Nước Việt ta tự hào là m ột nước có nền văn
hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là nền tảng tinh thần
vững chắc góp p h ầ n h ình th à n h con người Việt N am
mới, vừa hiện đại vừa giàu tính dân tộc.
Trong quan niệm của người Việt xưa và nay thi
quan niệm thờ cúng được coi là m ột đạo lý. Thờ cúng đã
trở th à n h m ột tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc
biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc. Cùng với tiến
trinh lịch sử của dân tộc, nó là sự bồi lắng, kết tụ những
giá trị đạo đức q u ý báu của con người Việt Nam . Biểu
hiện rõ về phong tục thờ cúng của người Việt là phong
tục thờ thiên nhiên có từ ngàn xưa - thờ Pháp Vân,
Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (tức là thần mây, thần
mưa, thần sấm , th ầ n chớp); tiếp đó là thờ nhân thần các vị anh h ù n g dâ n tộc có công với dân, với nước, các
Tổ nghề, T h à n h hoàng làng,... và thờ cúng Tô tiên, ông
bà, cha mẹ trong g ia đinh.
'
Người Việt tiến hành nghi lễ thờ cúng không chỉ
đơn th u ầ n là trong gia đinh m à còn diễn ra ở các nơi
thờ tự công cộng n h ư ở đinh, chùa, miếu, phủ.... N ghi lễ
thờ cúng n h ằ m xác lập "mối liên hệ" giữa người sông với
người chết, giữa người ở thê giới hiện tại và thê giới tâm
linh.

Thời điểm mà người ta tiến hành thờ cúng là những
ngày trong gia đinh có người sinh nở, cưới hòi, giỗ họ,
khao thọ, cúng giỗ, tang ma,... uà những ngày lễ, tết
định kỳ và không định kỳ trong năm. Thông qua nghi lễ
thờ cúng, người ta m uôn gửi găm tinh cảm biết ơn đôi
với th ế hệ trước, thê'hiện lòng hiếu thảo.
Không phải hất kỳ người Việt nào cũng hiểu rõ
nguồn gốc, ý nghĩa, nghi thức, việc sắm lễ vật và văn
khán cụ th ể của từng ngày lễ, tiết trong năm. Do vậy,
chúng tôi đã sưu tầm và biên .soạn cuốn "100 đ iể u c ầ n
b iế t v ề p h o n g t ụ c th ờ c ú n g c ủ a n g ư ờ i V iệt" hy vọng
sẽ cung cấp một phần nhỏ lượng tri thức phong p h ú về
phong tục tập quán của người Việt, đồng thời, tạ o ih u ậ n
lợi cho mọi người kh i thực thi việc hành lễ. Điều đặc
hiệt, chúng tôi còn trích dẫn thêm một sô phong tục thờ
cúng của một sô'dãn tộc thiêu sô'để hạn đọc tham khảo.
Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc có
thêm những hiểu biết cần thiết về phong tục thờ cúng
truyền thông của người Việt, đê mọi người có ý thức bảo
vệ và g iữ gìn những giá trị truyền thông quý giá của
dân tộc.

PHONG TỤ C THỜ CÚNG
TRONG G IA ĐÌNH VÀ DÒNG
HỌ
_


I. PHONG TỤC THỜ CÚNG GIA TIÊN
I.Cúng mụ cho trẻ sơ sinh
D ân g ian xưa q u a n niệm rằn g , đứ a trẻ ra đòi là do
mười h a i bà M ụ đã dày công n ặ n lên. Vì vậy, theo
p h ong tụ c xưa và đến n ay vẫn còn duy trì, khi đứa trẻ
đầv cữ (bé tra i chào đời được 7 ngày, bé gái chào đòi
được 9 ngày), hoặc đầy th á n g tuổi, gia đìn h tắ m rử a cho
trẻ , rồi sắm m ột bữ a tiệc gọi là đoàn du p h ạ n (tức là
bữ a cơm trò n trặ n ) đế cúng tạ ơn các bà Mụ, và cầu xin
các bà M ụ b a n cho đứ a trẻ mọi điều tốt lành.
M ột sô nơi tiệc cúng bà M ụ có th ể làm lúc ngày sin h
th ứ b a hoặc đầy th á n g , đủ tră m ngày hoặc đầy năm
tuổi, đó cũng là dịp cúng cáo gia tiê n và m ừng đứ a trẻ.
Lễ v ậ t cúng bà M ụ gồm: 12 đôi hài, 12 m iếng trầ u ,
các th ứ b á n h tr á i và m âm tôm , cua, ốc đê cuôi cùng đủ
chia đều cho 12 người để d â n g 12 bà M ụ (nhiều nơi các
lễ v ậ t cú n g th ư ờ n g là 13 th ứ , vì họ cho rằ n g có 12 bà
M ụ và 1 bà C húa. Lễ cúng m ụ sẽ được tổ' chức kh i trẻ
đầy th án g ).

VĂN KHÂN CÚNG MỤ

N am mô A Di Đà Phật!
N am mô A Di Đà Phật!
N am mô A Dì Đà Phật!

K ính lạy:
- Đức Tiên Mụ đại tiên chúa
- Đức Thập nhị bộ Tiên nương
- Hoàng thiên hậu Thô chư vị Tôn thần
- Đức B ản cảnh Thành hoàng, B ản xứ T h ổ địa
- Tô tiên, hương linh nội, ngoại
Hôm nay là n g à y

th á n g .. ..n ă m ........... (Am lịch).

Vợ chồng con là: ................................................................

Ngụ tại:

S in h đưỢc con trai (con gái) đ ặt tên là:.

C húng con thành tăm sửa biện: hương hoa, lễ vật....
Dâng lên trước án
Kính cẩn tâu trinh:
N hờ ơn thập phương chư Phật, chư Thánh hiền,
chư vị Tiên Bà,
8

Các đấ n g T hần linh, Thô công địa mạch, T h ổ địa
chính thần,
T ổ tiên nội, n g o ạ i ...........
Cho con sinh ra cháu, tê n ................................................
sinh ngày ................................................................................
Đã được mẹ tròn con vuông.
(N ếu là ngày đầy cữ, đầy th án g , đầy n ăm th ì th a y
vào b ài k h ấ n )

Cúi xin chư ưỊ Tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lăm
trước án
Chứng g iá m lòng thành, thụ hưởng lễ vật
Phù hộ độ trì, che chở con cháu
Được ăn ngon, ngủ yên
Vô bệnh vô tật, vô tai vô ương, vô hạn vô ách
Phù hộ cho cháu được tươi đẹp, thông minh, sáng láng
T hăn m ệnh binh yên cường tráng
Kiếp kiếp được hường vinh hoa p h ú quý
Toàn gia chúng con được an khang, th ịn h vượng
N h â n là n h nảy nở, nghiệp d ữ tiêu tan
Bôn m ù a không hạn ách nào xâm
Tám tiết hưởng vinh quang thịn h vưỢng
X in th à n h tâm kín h lễ.
Cẩn tấu!

2. Cúng dẩy tháng cho trẻ
Con đầy cữ đẻ, cha mẹ sám lễ cúng đầv cữ, tới khi
con đầy th á n g lại cúng đầy th án g . Q ua một cữ, một
th á n g là con trẻ đã qua một giai đoạn tro n g đời người.
C úng đầy th án g , ngoài việc cúng bà M ụ với đồ lễ
n h ư cúng đầv cữ, còn có cúng Thổ công và gia tiên.
N hiều gia đình giàu có, còn làm một b ủ a tiệc khoản
đãi mòi họ h àn g và b ạn bè th â n hữu đến dự và chia V U I.
K hách đên dự cúng đầy th án g , chỉ m ang quà m ừng đứa
trẻ, chứ không có quà m ừng cho mẹ đứa trẻ n h ư khi đầy
cữ.

Văn khăn (tham khảo bài văn khấn ở m ục 1. Cúng
m ụ cho trẻ sơ sinh).

3. Tục ra gã - Một nét văn hóa ở Chu Hóa, Phú Thọ
ơ xã C hu Hóa (Lâm Thao, P h ú Thọ), tụ c ra gà cho
các bé tra i sinh tro n g năm có từ thời phong k iến cách
đây h à n g tră m năm . Khi hòa b ìn h lập lại, đ ìn h làn g trở
th à n h n h à kho hỢp tác xã nông nghiệp, tục ra gà tạm
thời bị quên lãng. Song 10 năm trở lại đây, đ ìn h làng
được khôi phục, theo đó tục ra gà được coi trọ n g và trở
th à n h phong tục không th ể th iế u tro n g n h ữ n g ngày đầu
n ăm mới. Tục ra gà đưỢc h ai làng; L àng T hượng và làng
H ạ duy trì và bảo tồn.
Thòi phong kiến, tục ra gà vào ngày m ù n g 5 tế t

được tố chức rấ t công phu: gia dinh nào sin h được con
tra i (gọi là Đ inh), Sẽ chọn m ột con gà trô n g từ 3 - 4kg
10

(không chọn gà th iến ), trưốc Tết 4 - 5 th á n g nhôt gà vào
lồng, h à n g ngày bón cho gà ă n 3 lần/ngày b ằn g cơm
nóng trộ n cám gạo loại ]. Đến ngày 5 Tết, gia chủ mô
gà, thối xôi làm lễ g á n h ra đìn h làng. Lễ cúng b ắ t đầu
từ 1 giờ sáng, lầ n lượt từ n g gia đ ình nhờ các cụ già
th ô n g th ạ o cúng lễ sau khi cúng xong trời vừa sáng, tô
chức th i xem con gà n h à ai to đẹp n h ấ t. Mọi người tin
rà n g gà càng to, đẹp th ì đứa trẻ sẽ khỏe m ạn h , hay ăn
chóng lớn. S á n g ra , d ân làng đến xem r ấ t đông và cùng
n h a u hưởng lộc ngay tạ i đình.
N gày nay, các gia đình không tổ chức bón gà được
m à chọn con gà trố n g to khoảng 3,5 - 4,5kg, cúng xong
m an g về n h à mời a n h em nội tộc đến ă n m ừng cho dòng
họ có th ê m m ột ch áu tra i khỏe m ạnh. K hông chỉ các
ch áu sin h ra ở h a i là n g trê n đưỢc làm lễ ra gà m à cả các
ch áu sông với bô m ẹ ở mọi m iền của Tô quôc th ì ông bà,
họ h à n g ở quê v ẫ n tiế n h à n h làm lễ ra gà khi có th à n h
viên mới chào đời. Tục ra gà ở h ai làn g T hượng và làng
H ạ ỏ C hu H óa m a n g đậm tính chất tín ngưởng về phong
tục thờ cúng P hật ở đinh làng của người Việt cô. Thông
q u a h ìn h thứ c này, ngay từ khi sin h ra , con người đã
g án c h ặ t với tổ tiê n , cộng đồng. Đ ây là n é t đẹp tru y ề n
th ô n g v ă n hóa củ a m ột làng quê cần được bảo tồ n đê th ê
hệ con ch áu luôn luôn nhớ về cội nguồn, quê hương.

4.
Cúng cáo gia tiên để ghi tên con vào gia phả (hay còn
gọi là vào họ)
Lễ cúng cáo gia tiê n để ghi tê n con vào gia p h ả là
tụ c lệ đã có từ xưa, không phải là m ột lễ mới x u ấ t hiện.
Họ n ào đã có nề nếp sẵn th ì tấ t cả các th ê hệ con cháu
11

đời sau cứ theo lệ cũ m à tiế n h àn h . Còn đôi với n h ữ n g
họ mới phục hồi lại việc họ, chưa vào nề nếp, th ì có th ể
th a m khảo m ột vài k in h nghiệm m à chúng tôi đ ư a ra
dưối đây;
- Yết cáo tổ tiên đ ặ t tê n trẻ sơ sinh: Theo lệ cũ chỉ
sau kh i đối chiếu gia phả, kiêng các trư ờ ng hỢp ph ạm
huý (đ ặt tê n trù n g với tê n huý của tổ tiê n và th â n n h â n
gần gũi n h ấ t, kê cả nội ngoại) sau đó mối ch ín h thức
đ ặ t tê n huý cho trẻ sơ sinh, yết cáo tổ tiê n và xin vào sổ
họ. N gày nay p hải làm th ủ tục k h a i sin h kịp thời,
trư ờ ng hỢp ở xa quê, k h ô n g kịp về đổì chiếu gia phả,
nếu trù n g tê n huý tổ tiê n trự c hệ th ì tìm cách đổi, hoặc
trá n h gọi thông thườ ng tro n g nhà.
Lễ yết cáo tổ tiê n r ấ t đơn giản, chỉ cần n én hương
cơi trầ u , chén rưỢu cũng xong, thườ ng yết cáo k ế t hỢp
vối lễ tê tô h à n g nám . T ấ t cả con ch áu tro n g họ sin h
cùng n ăm th ì tô chức m ột lượt.
- Vào sổ họ: T hứ tự sổ họ ghi theo năm sinh, ai sin h
trước ghi trước, sinh sau ghi sau. T rường hỢp n h iề u
n ăm bị m ấ t sổ nay mối lập lại sô họ, th ì p h ải th ố n g kê
theo đơn vị hộ gia đìn h hoàn ch ỉn h cả họ, sau đó mới
lập sổ tiếp đối với n h ữ n g trẻ sơ sinh.

Sô mẫu: Họ tên (tên huý, tên thường gọi):..
Con ông bà:...
Thuộc đời thứ:...
Chi thứ:...
Con thứ:...
N gày tháng năm sinh:...
N gày vào sô họ:..._______________________
12

- Con gái vào sổ họ: B ất cứ tra i hay gái, sau khi
sin h đểu có lễ y ết cáo tố tiê n đê được tổ tiê n phù trì p hù
hộ, n h ư n g n h iê u họ ngày xưa không vào sổ họ đối với
con gái, cho' rằ n g "nữ n h â n ngoại tộc", con gái là con
người ta , lón lên đi làm d â u lo cơ n ghiệp n h à chồng, vì
th ê k h ô n g công n h ậ n con gái vào họ. Tuy vậy, ngay
trước C ách tạ n g T h á n g T ám - 1945 m ột số họ đã xoá bỏ
điều b ấ t công đó, coi con gái cũng có mọi quyền lợi,
n g h ĩa vụ n h ư con tra i.
K hi xã hội v ă n m inh tiế n bộ th ì vấn đề bình đ ẳn g
n am - nữ càng p h ả i đ ặ t lên h à n g đ ầ u và phải thực hiện
cho tốt. Do vậy các họ cần đặc biệt q u a n tâm đến con
gái và n à n g dâu. M ột dòng họ được coi là tiế n bộ, đoàn
k ế t g iữa các th à n h viên th ì b ản th â n mỗi người p h ải
b iế t n h ìn n h ậ n và coi trọ n g vai trò của người p h ụ nữ,
coi trọ n g vai trò người mẹ, người vỢ, người cô, người chị.
Cả nước đ a n g r a sức v ậ n động kê hoạch hoá gia đình,
m ục tiê u đã và đ a n g thự c h iệ n việc coi con gái cũng n h ư
con tra i, điều n à y cũng đồng n g h ĩa với việc vận dụng
p h o n g tụ c p h ả i p h ù hỢp với tư duy thòi đại, cái gì là h ủ
tụ c th ì cần k iên qu y ết loại bỏ.

5. Cúng đẩy năm cho trẻ
C ú n g đầy n ă m cũng gọi là cúng đầy tuổi, hay còn
gọi là "cúng th ô i nôi" hoặc "lễ th ô i nôi" (tức là không
n ằ m tro n g nôi nữa). N goài việc cúng lễ còn có tục th ử
đ ứ a trẻ . Vào hôm cúng đầy n ă m ch a mẹ cho trẻ ă n mặc
đẹp. C h a m ẹ bày cung tê n , giấy b ú t trước m ặ t bé tr a i và
13

ỏ bày dao kéo, kim , chỉ trưóc m ặt bé gái. Kdu tré n h ìn
th ấy các đồ v ật đ ặ t trước, tự trẻ sẽ n h ặ t lấy một th ứ mà
ch úng thích. Người ta nghĩ rằng: Khi bé tra i n h ặ t kiếm ,
cung hay giấy bút, th ì sau này có th ế theo con đường
binh nghiệp hay văn chương. Bé gái chọn kim chỉ th ì
sau này sẽ là m ột cô gái có tài nội trỢ, nữ công gia
ch án h đảm đang.
C úng đầy năm , n h iều gia đình sắm cỗ k h á th ịn h
soạn mời k h ách k h ứ a n h iề u hơn là ngày cúng đầy cữ,
đầy th áng.

6. Lễ khai tên cho con
Trưóc đây, n h ữ n g gia đ ình ngày đ ầu tiê n cho con đi
học, phải chọn ngày tốt, sắm lễ, tắm rử a, c ắ t tóc cho trẻ,
ăn mặc chỉnh tề rồi làm lễ cáo gia tiên. S au kh i người
cha k h ấ n lễ tạ i b à n thò, th ì đứa trẻ cũng p h ải lễ bốn lễ
ba vái để xin tổ tiê n ông bà ph ù hộ cho được thông
m inh, học h à n h tiế n bộ. Tục xưa là vậy, nay v ẫn còn tồn
tạ i ở các nưốc vùng nông th ô n của nưóc ta.
Sau khi ỏ n h à, cha hoặc mẹ của trẻ ă n mặc ch ỉn h
tề, d ẫn con đến n h à th ầ y xin n h ậ p học. Xưa, mỗi gia
đ ìn h khi đưa trẻ tới n h à th ầ y , đồng thời đội m ột m âm lễ
gồm; trà , rượu, tr ầ u cau, đĩa xôi, con gà đến lễ. T h ầy đồ
sẽ làm lễ T h á n h (tức là Đức K hổng Tử), tạ i b àn thờ
riên g hoặc ở m iếu thò Đức K hổng Tử, rồi cúng cáo với
gia tiê n về việc n h ậ n th ê m m ột môn sinh. S au đó đứa
trẻ mới được học bài đ ầu tiê n với th ầ y đồ.
14

{

7. Lễ Cắt tiên duyên
Trước đây. k h i m ột người con tra i và một người con
gái có ý đ ịn h k ết duyên với n h a u , n h ư n g do n h ữ n g trụ c
trặ c nào đó duvên nỢ không th à n h . Người xưa cho rằ n g
ngu v ên n h â n do kiếp trước h ai người đã là vỢ chồng
n h ư n g đôi bên n g a n g trá i không sống cùng n h a u trọ n
kiếp cho n ê n người chồng (hoặc người vỢ) kiếp trước
chư a đi đ ầ u th a i còn theo ám ảnh. Do đó cần cúng giải
sự theo đuổi củ a vong hồn người k h u ấ t, gọi là lễ cúng
c ắt d u yên kiếp trước hay là lễ c ắt tiê n duyên.
T rong lễ này, người ta thư ờ ng mòi n h à sư đến tụ n g
k in h siêu độ cho n h ữ n g người này.
Lễ v ậ t c ú n g lễ này thư ờ ng là đồ m ã (đế hóa k h i k ết
th ú c buổi lễ), có m ột h ìn h n h â n th ê m ạng (là n am hoặc
nữ) để "cưới" cho người vỢ hoặc chồng kiếp trước của
người làm lễ. Việc làm n ày có th ể làm an lòng họ để họ
khô n g gây cản trở tro n g việc hôn n h â n kiếp này.

8. Lễ Chạm ngõ
S au k h i h a i bên gia đ ình đã thỏa th u ậ n và đi đến
q u y ết đ ịn h cưới, gả, n h à tr a i sẽ h ẹn ngày với bên n h à
gái để đem lễ v ậ t tr ầ u cau đến xin đ ính ưốc.
Theo p h ong tụ c thư ờ ng p h ải chọn ngày tôt, tức là
ngày âm dương b ấ t tương, th ì vỢ chồng sau này ă n ở
mới th u ậ n hòa, để tiế n h à n h lễ chạm ngõ. T rong ngày
chạm ngõ, n h à tr a i sắm m ột lễ m ọn cúng cáo tổ tiê n để
báo công việc trà m năm của con h ay cháu. S au đó n h à
tr a i sửa m ột lễ đư a sa n g n h à gái. Lễ gồm m ột cơi trầ u
15

têm cán h phượng, cau bố tví bẻ cánh tiên. N hà k h á giả
đư a cả buồng cau, mười mớ trầ u , m ứt sen, tr à lạn g
đựng tro n g các quả sơn son th ế p vàng. Có nơi ngoài cau
trầ u , trà rưỢu, m ứt sen, n h à tr a i còn biếu b á n h khảo
(nay thườ ng là b á n h xu xê, b á n h côm...) và các loại
b á n h khác được ưa chuộng. Có th ể lễ v ậ t tu y ít, n h ư n g
cốt ở tấ m lòng th à n h của n h à tra i.
Đ oàn người đi chạm ngõ gồm bà môi, bà mẹ, bà dì,
bà cô của chú rể. Các cô gái chưa chồng tro n g họ tộc
(nay thườ ng là nam giới chưa vỢ), đội các m âm q u ả hoặc
bưng k hay trầ u đi trưốc, sau đó mới đến n am hoặc nữ
th a n h n iên tro n g đó có chú rể.
Lễ được chia làm 2 phần: p h ầ n nh iều đ ặ t lên b àn
thờ và cha của cô d âu sẽ k h ấ n vái để báo cáo với tổ tiê n
về ngày m à con hay cháu họ sắp lập gia đình. P h ầ n còn
lại đư a về n h à ông cậu của cô gái, để lễ gia tiê n bên
ngoại.
Trước khi n h à tra i ra về, n h à gái lại quả m ột p h ần .
H iện nay, n h iều gia đ ình vì m ột lý do nào đó như:
đường xá đi lại từ n h à tra i đến n h à gái q u á xa, hay
không có điều kiện n ên người ta không làm riê n g lễ
chạm ngõ tro n g m ột ngày m à ghép vào làm ch u n g với lễ
ă n hỏi.
Theo phong tục xưa, tro n g lễ chạm ngõ, n h à tra i
đưa cho n h à gái m ột tờ hoa tiên , tro n g đó ghi tê n tuổi
ngày sin h th á n g đẻ của chú rể đế n h à gái xem xét và
chấp n h ậ n cho việc đín h hôn.

16

Lễ chạm ngõ thự c c h ấ t là lễ đính hôn, n ên từ sau
n g ày đó n h à tr a i thư ờ ng qua lại n h à gái để tỏ tìn h th â n
m ậ t và b à n tín h chuyện ă n hỏi sắp đến.

9. Lễ xỉn dâu
H ai bên gia đ ìn h n h à tra i và n h à gái đã th ô n g n h ấ t
n g ày giờ đón d â u từ trước, do vậy trước giò đón dâu,
n h à tr^ i có m ấy người m an g m ột cơi trầ u , m ột ch ai rượu
đ ến xin d â u và báo trước giò đoàn đón d â u sẽ đến để
n h à gái c h u ẩ n bị đón tiếp.
Cơi trầu và chai rưỢu này được nhà gái đặt lên bàn

thờ để làm lễ cáo tổ tiên biết trước, rồi hạ xuôhg đón
khách đi đưa dâu.
Đ ại diện củ a n h à tr a i là mẹ chồng, hoặc cô, th ím
tro n g họ đê đ ư a lễ này.

10. Lễ tơ hông
N gười xưa cho rằ n g , việc n ê n vỢ n ê n chồng là do
ông Tơ bà N g u y ệt se duyên, ch ín h vì th ê kh i cô d â u chú
rể th à n h vỢ th à n h chồng p h ả i tạ ơn ông Tơ và bà
N guyệt, cầu xin ông Tơ bà N guyệt ph ù hộ cho ă n n ên
làm ra và p h ù hộ cho ă n ở với n h a u trọ n kiếp trọ n đòi.
Vì vậy, sau k h i đón d âu về, người chủ hôn sẽ vào
b à n th ò gia tiê n n h à chú rể đế làm lễ trước rồi h ai vỢ
chồng cô d â u chú rể vào lễ sau. D ân gian gọi lễ n ày là lễ
tơ hồng. T rong lễ tơ hồng có đọc văn tế. Nội d u n g bản

17

v ăn tê mỗi nơi viết m ột khác không quy đ ịn h th ô n g
n h ấ t, n h ư n g nội d u n g cơ b ản là ca tụ n g công đức ông Tơ
bà N guyệt se mối duyên là n h cho đôi trẻ , và m ong ông
bà tiế p tụ c p h ù hộ cho cô d â u ch ú rể ă n ở với n h a u
đến đ ầ u bạc ră n g long, sin h con đ àn , c h á u đống, ăn
n ê n làm ra.
H iện n ay phong tụ c này h ầ u n h ư đã bị bỏ qua, chỉ
còn lại m ột sô" ít gia đ ình vẫn tổ chức. Nội d u n g cơ bản
của lễ ông Tơ bà N guyệt là biểu dương đạo vỢ chồng ăn
ở ch u n g th uỷ, sống hòa th u ậ n . Đ ây là m ột nghi lễ m ang
ý n g h ĩa cao quý, giáo dục con người làm điều th iện ,
tr á n h điều tà ác.

VĂN KHẤN GIA THẦN,
GIA TIÊN KHI cưứl GẢ

N a m mô A Di Đà Phật!
N a m mô A Di Đà Phật!
N a m mô A Di Đà Phât!

K ính lạy:
- H oàng thiên H ậu tổ chư vị Tôn thần
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ T hổđm
- Ngài Bản gia Táo quăn cùng các chư vị Tôn thần.
- T ổ tiên và các chư vị hương linh nội, ngoại
18

Hòm nay là n g à y ....... th á n g ..... n ă m ..............
Tín chủ chúng con là : ........................................................
Ngụ tạ i: ..................................................................................
Con trai (hoặc con gái) của tín chủ là : .........................
N ă m n a y .................tuổi, kết duyên cùng ........................
Người th ô n ............ , x ã ................, h u y ệ n .........................
T ỉn h ....................... Con của ông b à ...................................
N ay thủ tục hôn lễ đã thành.
Xin sắm sửa: hương hoa, trà quả cùng lễ vật .............
D âng lên trước án
K ính lạy:
- Trước T hần linh bản th ổ

- Trước linh hài liệt vị gia tiên
- Trước Phúc tô di lai, ô n g Tơ Bà Nguyệt.
X in được g iá n g lâm, nạp thụ
P hù hộ cho các cháu:
Giai lão trăm năm , vừng bền hai họ.
N g h i th ấ t nghi gia, con cháu th ịn h đạt.
Cúi xin chư vị gia ân
Mọi sự h a n h thông, cung trần bái thỉnh.
Cấn cáo!

19

11. Dâu, rê làm lễ gia tiên
Trong gia đìn h xảy ra biến cô" gì, con cháu đều p h ải
cúng cáo gia tiê n từ việc hiếu đến việc hỷ, từ việc vui
cho tối việc buồn...
C hính vì thế, tro n g ngày vui m ừng lễ th à n h hôn
cho con cháu, ngoài người gia trư ởng p h ả i k h ấ n vái tổ
tiê n th ì cô dâu, chú rể cũng p hải cúng lễ tổ tiên.

Trước khi sang nhà gái đón dâu, chú rể phải làm lễ
ở bàn thò nhà mình. Đến khi sang nhà gái đón dâu, cả
cô dâu và chú rê đều phải xin phép hai họ cho cúng lễ tổ
tiên nhà gái ở tại chính nhà bố mẹ vỢ (có trường hỢp còn
vào lễ ở nhà thò họ bên nhà vỢ).
Đôi với cô d âu cũng vậy, ngày vu quy, kh i về n h à
chồng, việc đ ầu tiê n là p h ả i lễ trưỏc b à n thờ tổ tiê n n h à
chồng. K hi về đến n h à chồng n h iều nơi còn quy đ ịn h
kh i cô d âu về th ì gia đ ìn h n h à chồng p h ải đưa cô d âu
đến lễ ỏ n h à thờ tro n g h a i họ nội, ngoại n h à chồng.
Việc làm lễ trước b à n thờ n h à chồng hoặc ở n h à vỢ
m ục đích chính là để cô d â u chú rể trìn h diện với tổ tiê n
ông bà coi n h ư tổ tiê n ông bà của bên vợ (hay chồng)
cũng n h ư n h à m ình. Và đây cũng là dịp tổ tiê n n h ậ n
m ặ t ch àn g rể hoặc n à n g dâu.

12. Lễ thượng thọ
Đốì với người V iệt, theo phong tục xưa, gia đ ìn h
nào có ông, bà, cha, mẹ th ọ 70 tuổi th ì làm lễ m ừng thọ,
80 tu ổ i là Thượng thọ, 90 tuổi là T hượng thư ợ ng thọ,
100 tuổi là B ách tu ế đại thọ. T ập tục n à y th ể h iện đạo
20

lý làm người, uông nước nhớ nguồn, k ín h trọ n g và biết
ơn người đã sin h th à n h nuôi dưỡng m ình, r ấ t đ án g được
tr â n trọng.
Thòi xưa, tro n g ngày lễ m ừng thọ, gia chủ p h ải có
m âm lễ gồm: hươ ng hoa, tr à q u ả cùng lễ m ặn đem ra
đ ìn h lễ th ầ n (gọi là b ái tạ th ầ n H ưu) - tạ ơn th á n h th ầ n
đ ã p h ù hộ cho cha, m ẹ được sông lâu.
N gày tổ chức ă n m ừng, trư ớc h ế t làm lễ gà xôi, hoặc
ta m sin h , họặc lợn bò, đem r a đ ìn h lễ th á n h , gọi là bái
tạ th ầ n linh, n g h ĩa là tạ ơn th á n h th ầ n đã p h ù hộ cho
ch a m ẹ được sốhg lâu.
Đ ến lúc lễ, ch a (hoặc mẹ) ă n m ặc lịch sự ngồi trê n
chiếc g h ế đ ặ t c h ín h g ian giữa cho con cái tê tự lễ bái.
Con c h á u mỗi người d â n g chén rư ợu m ừng thọ, hoặc là
d â n g q u ả đào, gọi là b à n đào chúc thọ, lấy điển bà T ây
V ương M ẫu n g ày xưa h iế n cho v u a H á n Vũ Đê m ấy quả
đào tiê n , nói rằ n g á n q u ả đào ấy th ì được trư ờ n g thọ.
Con ch áu lễ b ái xong th ì cùng ă n m ừng mời d ân
là n g và k h á c h k h ứ a , ngày x ư a có n h à ă n h a i ba ngày, có
n h à ă n đ ến n ă m bảy ngày.

13. Thờ cúng gia tiên
Thờ cúng tổ tiê n là tấ m lòng th à n h k ín h th ể h iện
đạo lý uốhg nước nhớ nguồn, b iế t ơn tổ tiê n ông bà, cha
m ẹ đ ã sin h th à n h và gây dự ng n ê n cuộc sống cho ch áu
con. T hò cúng tô tiê n c h ín h là to à n bộ các h ìn h thức lễ
nghi, cú n g bái n h ằ m bày tỏ lòng tôn k ín h của các th ê hệ

21

sau với n h ữ n g người thuộc th ế hệ trước của một dòng
họ, vôi ông bà, cha mẹ đã qua đời.

Tục thò cúng tổ tiê n của người V iệt ra đòi từ lâu,
trê n cơ sở niềm tin về sự b ấ t tử củ a lin h hồn sau kh i con
người đã chết; tin rằ n g con người ta ch ết đi v ẫn thường
về th ă m nom , p h ù hộ cho con cháu. K hông n h ấ t th iế t
p h ải là m âm cao cỗ đầy, chỉ cần m ột n é n n h a n g lên bàn
thờ tổ tiê n tro n g ngày lễ, ngày Tết, h ay ngày giỗ tổ tiên,
con ch áu tro n g gia đ ìn h cũng đã th ê h iện được tấ m lòng
th à n h k ính, hướng về cội nguồn, tư ỏng nhớ n h ữ n g
người th â n đã k h u ấ t. Từ lâu, thờ cúng tổ tiê n ông bà đã
trỏ th à n h m ột phong tục, là c h u ẩ n mực đạo đức và
n guyên tắc làm người, đồng thời là m ột p h ầ n q u an
trọ n g tro n g đòi sông tâ m lin h củ a người V iệt, đặc biệt là
cuộc sông ở các là n g quê. Người d ân V iệt vốn trọ n g lễ
n g h ĩa, h iếu th ả o với cha mẹ và có h iếu với ông bà tổ
tiên.
22

Xin tổ tiê n p h ù hộ cho gia quyến bình an, đó là tâ m
niệm của tấ t cả người V iệt N am . T rên thực tế, th ò cúng
tổ tiê n là m ột p h ong tục tru y ề n thông của d ân tộc, cho
dù đó không p h ả i là điều b ắ t buộc song đó lại là th ứ
"lu ật b ấ t th à n h văn" tro n g đời sống tâ m linh của người
V iệt tồ n tạ i q u a bao th ế hệ. T rong mỗi gia đình, b àn thò
cúng tổ tiê n được đ ặ t ở vị tr í tra n g trọ n g n h ấ t và trở
th à n h nơi con c h áu k h ấ n vái tro n g n h ữ n g ngày tu ầ n ,
n g ày giỗ, n g ày T ết, hoặc khi có h iếu hỷ, việc to, việc nhỏ
với m ong m uốn được gia tiê n p h ù hộ. Nói chung, mọi
biến cô tro n g gia đ ìn h đều được gia chủ báo cáo vối gia
tiên.
T heo phong tục, b àn thò gia tiê n được đ ặ t ngay tạ i
g ian n h à chính. N ếu n h à giàu có th ì đồ thò p h ụ n g th ậ t
tra n g hoàng, sơn son th iếp vàng. Còn gia cản h tú n g bấn
th ì c ũ n g chỉ c ần vài cây đèn, n ế n sơn son và m ột b ìn h
hương là đủ. X ưa kia, n h ữ n g n h à quyền quý có đ ủ T h ầ n
chủ bốh đời để th ò , đó là cao, tằ n g , tổ, khảo. T h ầ n chủ
làm b ằ n g gỗ táo, trê n đó đề tê n , họ, chức tưốc, ngày
th á n g sin h tử c ủ a tổ tiên . N h à thư ờ ng d ân cũng có n h à
d ù n g T h ầ n chủ, n h ư n g cũng có n h à dùng bộ ỷ để thò.
Đồ th ò tự được coi là n h ữ n g v ậ t lin h thiêng. N gày nay,
do tác động của nếp sổng mới, gia đình có b àn th ò cổ
k h ông còn n h iề u . Người ta lập b à n thờ trê n m ột tấ m
v á n đóng trê n tường, có khi là trê n nóc tủ... Đồ th ò chỉ
gồm m ột b ìn h hương nhỏ, k h u n g ả n h thò người quá cô
và m ột sô đồ bày biện khác.
S a u k h i đ ặ t đồ lễ lên b àn thò, gia trư ởng (có th ể là
chủ hộ hoặc con trư ở ng n am hoặc ch áu đích tôn...) k h ă n
áo ch ỉn h tề, th ắ p hương, đứng trưốc b àn thò, vái 3 vái
23

và k h ấn . Hương th ắ p trê n bàn thò bao giò cũng th ắ p
theo sô lẻ: một, ba, năm nén. Sau khi gia trư ởng k h ấ n
lễ, lần lượt đến mọi người tro n g gia đ ình vái trưốc bàn
thờ. N gày nay, việc k h ấ n lễ đã g iản đơn, người ta chỉ
vái th a y lễ. Trước khi k h ấ n , vái 3 vái ngắn, k h ấ n xong
vái th êm 4 vái dài và 3 vái ngắn. K hi mọi người đ ã lễ
vái xong, chờ cho tà n m ột tu ầ n n h an g , gia trư ở n g tối
trưốc b àn thờ lễ tạ và th ắ p th êm tu ầ n n h a n g nữa. S au
đó, gia trư ởng h ạ vàng m ã trê n b à n thờ đem hoá (đốt).
Lúc hoá vàng người ta thườ ng lấy chén rượu cúng vẩy
lên đống tà n vàng. Người xưa q u an niệm rằ n g p h ải làm
n h ư vậy th ì người dưới âm mối n h ậ n được sô v àn g người
sông cúng. Sau đó gia chủ có th ể hạ đồ lễ xuống.
Trong việc thờ p h ụ n g tô tiê n th ì ngày giỗ h ay còn
gọi là kỵ n h ậ t r ấ t q u a n trọng. Trong ngày giỗ, người ta
làm cỗ b à n mời th â n b ằn g quyến thuộc. Giỗ có th ể làm
to hoặc làm nhỏ tu ỳ theo gia cảh h và tu ỳ thuộc vào mối
liên hệ giữa người sống và người chết. Ví n h ư giỗ cha
mẹ, giỗ ông bà thườ ng làm to, giỗ a n h em, chú bác cùng
các vị cao tằ n g tổ khảo thư ờ ng chỉ có cơm can h cúng đơn
sơ để khỏi bỏ giỗ.
Theo phong tục, con tra i trư ở ng là người có trá c h
nh iệm tổ chức. N ếu con tra i trư ở ng không còn th ì việc
cúng giỗ sẽ do cháu đích tôn tổ chức (chỉ k h i nào trư ỏ n g
n am không m ay tu y ệ t tự, không có con tra i nối dõi th ì
mối đến con thứ). T uy nhiên, không vì th ê m à n h ữ n g
người con thứ , cháu th ứ , cháu ngoại bỏ ngày giỗ ông bà,
cha mẹ. Đ ến ngày giỗ, tấ t cả con ch áu từ lốn đến bé đều
p h ải tê tự u ở n h à người con tr^ưởng và cũng p h ải m an g
đồ lễ cúng tới để gửi giỗ. Trước ngày giỗ, trư ởng n am
24

làm lễ cáo với T hổ công để xin phép vối T hổ công cho
hương hồn người đã k h u ấ t đưỢc về phôi hưởng, bởi
người ta cho rằ n g "đất có T hổ công, sông có H à bá", chỉ
k h i có phép của T hổ công th ì hương hồn người đã k h u ấ t
mối vào được tro n g nhà.
Đồ lễ d â n g cúng gia tiê n bao giò cũng p h ải th a n h
k h iế t, con ch áu tu y ệ t đốĩ không được đụng tới. c ỗ bàn
n ấ u xong, trước tiê n p hải cúng gia tiê n rồi sau đó con
ch áu mới được àn. K hách tới ă n giỗ có m an g đồ lễ để
cúng, th ư ờ n g là v àn g hương, tr ầ u rượu, tr à n ến , hoa
quả.
N goài n g ày giỗ tổ tiê n tạ i gia, người V iệt còn có
n g à y giỗ họ. T rưởng tộc là người được hưởng hương hoả
củ a tổ tiê n n ê n có trá c h n hiệm p h ả i lo việc làm giỗ họ.
T rong n g à y giỗ họ, con ch áu đều p h ải góp giỗ. Mỗi họ
đều có m ột cuôn gia p h ả ghi chép họ tên , chức tưóc,
n g à y th á n g sin h tử của tổ tông và người tro n g họ theo
th ứ tự.
Con c h á u tro n g m ột họ lập T ừ đường để thờ vị T huỷ
tổ. T rê n b à n th ò ấy có bài vị T huỷ tổ dòng họ. Xưa kia
b ài vị th ư ờ n g được ghi b ằ n g H án tự, ngày n ay có n h iều
người d ù n g chữ Quốc ngữ để đề bài vị. Ngoài T h ầ n chủ
th ì đồ thờ còn bao gồm: đèn nến, hương, hoa, m âm quỳ,
m âm bồng cổ, đài rượu... H oành phi câu đối trê n đó ghi
lại công đức củ a tổ tông là đồ không th ể th iế u tro n g
g ia n thò. Có n h iề u họ không xây Từ đường th ì xây m ột
đ ài lộ th iê n , dự n g bia đá, ghi tê n th ụ y h iệu các tổ tiên.
M ỗi k h i có giỗ tổ hoặc có tê tự th ì cả họ ra đó cúng tế.
25

C huyện góp giỗ và tổ chức giỗ họ h à n g năm được
ch u ẩn bị r ấ t chu đáo. Theo phong tục chỉ có đ àn ông
tro n g họ trê n 18 tuổi mái p hải góp giỗ (được gọi là tín h
theo đinh). Có n h iều họ theo q u an niệm "con gái là con
người ta" nên không cho con gái dự giỗ họ n h ư n g con
d âu "mới đúng là con m ua về" th ì được th a m dự. N gày
nay, q u an niệm ấy đã d ần được xoá bỏ. N gày giỗ họ,
không mòi k h ách khứa, chỉ có con cháu tro n g họ. Các
ngày rằm , m ồng một, ngày lễ, ngày T ết việc lễ bái sẽ do
n h à trư ởng họ lo. Đ ến th á n g C hạp th ì cả họ lại họp
n h a u lại n h ư ngày giỗ Tổ.
Đã bao th ê kỷ trôi qua, cung cách và q u a n niệm thờ
p h ụ n g tổ tiê n của người V iệt N am xét theo góc độ nào
đó đã có nh iều th a y đổi n h ư n g ý n g h ĩa lốn n h ấ t th ì vẫn
giữ nguyên. Người V iệt N am coi việc thò p h ụ n g tổ tiê n
là m ột tro n g n h ữ n g nguyên tắc đạo đức làm người. Đó
là h ìn h thức th ể hiện sự hiếu th u ậ n và lòng biết ơn của
con ch áu đôi với các bậc sin h th à n h .

Các đ ồ thờ cúng g ia tiên
- Bài vị: B ài vị h ay T h ầ n chủ được làm b ằn g gỗ tá p
(cây tá p sông lâ u được n g à n tuổi) có d á n m iếng giấy ghi
tê n h úy (tên k h i sống kiêng không được gọi), tê n th ụ y
(tên vua b an cho n h ữ n g người có chức tước sau khi
chết), tê n hàm h ay hèm (tên người n h à đ ặ t cho người
ch ết để dùng k h i cúng giỗ), bằng cấp, p h ẩm tưóc, tuổi,
ngày sin h và ngày m ất.
- Bài vị h ay T h ầ n chủ được đ ặ t tro n g lòng cái k h ám
có cán h cửa, k h i nào cúng tê mỏi mở ra. K hám được làm
b ằn g gỗ quí, h ìn h khối chữ n h ậ t, có cán h cửa, chạm trổ
26

rồng chầu mặt nguyệt, và sơn son thếp vàng. Cái khám
đưỢc đặt phía giữa ở trong cùng của bàn thờ.
- ảnh người quá cô: Nếu có ảnh của người quá cố ta
nên đóng khung và bày bên cạnh bài vị để con cháu
chiêm ngưỡng trong khi cúng.
- Lư hương: Lư hương d ù n g để đô"t trầ m (th ứ cây gỗ
có m ùi thơm d ù n g để làm hương đốt) được đ ặ t ngay
trước bài vị. Việc đốt trầ m cốt để tạo không k h í thơm
th o ấm cúng và tra n g nghiêm ở nơi thờ cúng. Vì b át
n h a n g th ư ờ n g th ấ p và nhỏ tro n g khi lư hương thường to
và cao n ê n b á t n h a n g thư ờ ng được đ ặ t ở p h ía ngoài lư
hương để tiệ n cho việc cắm n h a n g (hương), n h ấ t là khi
có người đến d â n g hương. T uy nhiên, cũng có gia đình
bày b á t n h a n g ở ngay trước bài vị và lư hương ở phía
ngoài của b á t n h an g .
- B át n h an g : B át n h a n g còn gọi là b á t hương được
đ ặ t ở c h ín h giữa b à n thờ và trưốc lư hương. B át n h a n g
h a y b á t hương là m ột cái b á t đự ng tro h a y c át đã được
đãi và rử a sạch để cắm n h an g . N ếu không có tro hay
cát, người ta lấy gạo để th a y th ế. Đê tă n g th êm vẻ tra n g
...
 
Gửi ý kiến

Mỗi tuần một cuốn sách hay