Chủ đề năm học: 2025-2026:
```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````
Giới thiệu sách tháng 11
Bài hát: Trang sách mở ra thế giới
Trang sách mở ra thế giới của thủy
Bản tin
Tuần lễ áo dài
Lịch sử VN bằng tranh 17

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:03' 01-04-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:03' 01-04-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ nhất
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ỷ Lan Nguyên phi / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.17).
1. Ỷ Lan, 1044-1117. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Lý, 1009-1225 — Sách tranh.
I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Ỷ Lan, 1044-1117. 2. Vietnam — History — Ly dynasty, 1009-1225 — Pictorial works
959.7023092 — dc 22
Y11
Lời giới thiệu
Việc người phụ nữ tham gia triều chính trong lịch sử nước
ta vốn đã là hiếm. Không những vậy, người phụ nữ ấy với tài
năng và đức độ của bản thân lại trở thành một trong những
danh nhân có tài trị nước. Người ấy chính là Nguyên phi Ỷ Lan.
Vốn chỉ là cô thôn nữ, vào cung, được vua Lý Thánh Tông
tin tưởng trao quyền nhiếp chính khi người đích thân chinh
phạt Chiêm Thành, và khi nhiếp chính với cương vị Hoàng thái
hậu, Nguyên phi Ỷ Lan góp phần không nhỏ trong việc ổn định
chính sự, giúp cho trong nước yên ổn, lòng dân vui vẻ, được
nhân dân quý trọng, tôn vinh.
Dầu vậy, đời người không tránh được sai lầm, sử cũ vẫn ghi
lại chuyện Thượng Dương hoàng hậu cùng 72 vị cung nữ đã
làm cả đời bà day dứt, xây dựng chùa chiền, sám hối, rửa oan.
Do vậy, bà rất tinh thông Phật pháp, là người “hiểu sâu tôn
chỉ” đạo Phật, cùng với tài văn chương, bà đã để lại cho đời
bài kệ vẫn còn lưu lại trong Thiền uyển tập anh rất có giá trị.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 17 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Ỷ Lan nguyên phi” phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 17 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyên phi Ỷ Lan là vợ vua Lý Thánh Tông, và là mẹ
vua Lý Nhân Tông trong lịch sử Việt Nam. Với tài năng
và đức độ của mình, Ỷ Lan đã được vua Lý Thánh Tông
trao quyền điều khiển chính sự khi người thân chinh cầm
quân chinh phạt Chiêm Thành năm Kỷ Dậu (1069). Khi
vua Lý Nhân Tông lên ngôi, do còn nhỏ tuổi, dưới sự
giúp đỡ của cả Lý Đạo Thành và Lý Thường Kiệt, bà ra
tài ổn định và phát triển đất nước, đập tan âm mưu xâm
lược của ngoại bang.
Mùa thu năm năm Đinh Dậu (1117), Ỷ Lan mất, hỏa
táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức (đền Lý Bát Đế).
4
Ỷ Lan, theo một số sách thì có tên thật là Lê Thị Khiết, quê ở
làng Thổ Lỗi, Gia Lâm, Hà Nội(*). Khiết sinh trưởng trong một
gia đình làm ruộng, có nghề trồng dâu nuôi tằm. Sống giản dị ở
làng quê êm đềm nên theo nếp nhà, Khiết đã chăm chỉ làm việc
từ nhỏ. Lớn lên, cô trở thành một cô gái khéo léo, nuôi tằm, dệt lụa
không thua một ai trong vùng.
* Có tài liệu nói là huyện Mỹ Văn - Hưng Yên.
5
Khiết không những khéo tay, chăm chỉ, mà còn là một cô gái
khỏe mạnh và xinh đẹp. Do thức khuya dậy sớm, luôn tay vận
động nên cô có một sức khỏe dẻo dai. Trời còn phú cho cô một
làn da trắng hồng, nụ cười duyên dáng và giọng ca ngọt ngào. Vào
những đêm trăng, cô vừa dệt lụa vừa ngân nga hát. Tiếng hát thanh
trong, cao vút lơ lửng trong không gian, làm xao xuyến lòng người.
6
Nhiều chàng trai say đắm giọng ca, nết ở của cô, nhờ mai mối
đến đưa lời với cha Khiết mong cụ nhận lời mà gả con cho. Nhưng
cha Khiết vốn yêu thương con gái nên không muốn ép duyên con.
Cụ để cho Khiết tự lựa chọn. Còn Khiết dù cũng có bâng khuâng,
nhưng thương cha già, chưa muốn rời xa.
7
Mẹ Khiết mất khi cô vừa chớm lớn. Tuy thế bà cũng kịp truyền
lại nghề nuôi tằm, dệt lụa cho cô. Cô nuôi lứa tằm nào cũng trúng.
Bởi cô chọn mua trứng ngài(*) của những lái buôn quen biết nên
lần nào cũng được họ dành cho thứ tốt. Cô treo trứng ngài vào chỗ
mát cho đến khi nở ra sâu nho nhỏ thì để vào nong(**). Vì nhà neo
người nên mỗi lứa cô chỉ nuôi vài chục nong.
(*) Ngài là bướm do tằm biến thành.
(**) Nong là dụng cụ đan bằng tre rất khít, hình tròn, lòng rộng và cạn,
khá to, dùng để phơi, đựng.
8
Vào những lúc tằm ăn rỗi, cô làm việc không nghỉ tay. Cô rất
cẩn thận, chỉ chọn hái những lá dâu tươi xanh. Hái về, cô không
cho tằm ăn ngay mà bao giờ cũng hong thật khô rồi mới thái thành
những sợi mỏng như tơ. Sợi lá càng nhỏ, tằm tiêu hóa càng dễ
dàng nên chóng lớn. Mỗi ngày phải cho tằm ăn đến ba mươi sáu
lần nên có khi Khiết quên cả ăn cả ngủ.
9
Cha cô phải nhờ một cậu bé trong họ cùng cô săn sóc tằm. Tằm
ăn rỗi một tuần thì cô mới được thong thả hơn. Lá dâu không còn
phải thái nhỏ nữa mà tằm cũng chỉ ăn có năm, sáu lần trong ngày
mà thôi. Tuy vậy, buồng nuôi tằm vẫn phải giữ thông khí và sạch
sẽ. Hễ trời trở nóng thì mở cửa cho mát, trời trở lạnh thì phải đóng
ngay, nếu không tằm sẽ chết. Tằm cũng không chịu được gió lùa.
Gió thổi phía nào thì phải che phía ấy để bảo vệ tằm.
10
Ngoài ra còn phải xua ruồi, đuổi chuột. Nếu ruồi đậu vào tằm
thì sẽ đẻ trứng, bọ ruồi sẽ ăn kén tằm về sau này. Còn các chú
chuột thì rất khoái chén những con tằm béo ngậy. Cậu em họ của
Khiết tinh mắt, thường giúp Khiết loại bỏ những con tằm xấu, vì
tằm xấu chẳng cho tơ mà còn ăn tốn lá dâu nữa.
11
Khiết nuôi chừng hai bốn, hai lăm ngày là tằm chín, sẵn sàng
nhả tơ. Cô bắt tằm lên né(*) rồi đem phơi dưới nắng để cho tằm làm
tổ. Khi có được kén(**) rồi thì chỉ trong ba ngày là cô phải ươm tơ
ngay. Nếu chậm trễ, nhộng sẽ cắn kén chui ra, làm hỏng hết cả tơ.
(*) Né là dụng cụ làm bằng phên đan thưa, thường có nhét rơm, dùng đặt tằm
khi đã chín, để cho tằm làm tổ.
(**) Tổ bằng tơ mà tằm tự nhả ra để ẩn lúc hóa thành nhộng.
12
Ươm tơ(*) là một công việc rất khó khăn, nhưng nhờ mẹ đã chỉ
bảo cẩn thận nên Khiết rất thông thạo. Cô nấu nước sôi rồi lần
lượt bỏ những cái kén vào nồi. Tay cô cầm đũa, thoăn thoắt nhào
đi nhào lại mớ kén để lấy sợi gốc. Lấy được rồi, cô bỏ đũa, dùng
tay kéo tơ. Cứ bảy con kén, cô chập lại thành một sợi. Nếu có mối
nào đứt thì cô nhanh tay nối ngay.
(*) Ươm tơ là kéo sợi tơ từ kén ra.
13
Sợi tơi được nối vào gàng(*) và cậu bé trai ngoan ngoãn quay
đều tay dưới sự chỉ dẫn của người chị họ đảm đang. Khi nào gàng
nặng ước chừng bốn năm lạng, cậu bé quấn mối lại rồi đem phơi
nơi thoáng gió và sạch sẽ. Trong khi đó, Khiết vẫn tiếp tục ươm tơ.
(*) Dụng cụ bằng gỗ có hình lục lăng để quấn tơ vào.
14
Tơ do Khiết làm ra khi nào cũng vàng mượt và óng ánh ngũ
sắc. Với những cuộn tơ ấy, cô dệt thành những tấm lụa mịn màng.
Các lái buôn thường tìm đến cô để mua. Nhờ thế, tuy gia cảnh đơn
sơ, nhưng trong nhà chưa bao giờ túng thiếu. Còn Khiết, dù tự tay
làm ra nhưng chưa bao giờ cô dám may cho mình một chiếc
áo lụa. Quanh năm cô chỉ mặc một thứ vải nâu sồng mộc mạc.
15
Hàng đêm, tiếng khung cửi dệt lụa hòa trong tiếng học bài ê a
của cậu em. Hai chị em mải mê, người dệt, người học cho đến tận
khuya. Thỉnh thoảng, người cha thức giấc ra châm đèn đuổi muỗi
cho con hoặc nhấm nháp chén rượu thuốc. Nhìn con siêng năng,
hài lòng nhưng không khỏi áy náy cho nhân duyên của con gái.
16
Rồi năm ấy (1062), làng Thổ Lỗi cũng đang vào đợt nuôi tằm.
Khiết tất bật lo toan. Nhằm lúc tằm nhà đang ăn rỗi, Khiết hái
dâu, thái lá không ngừng tay. Có tin loan rằng nhà vua sẽ đi ngang
qua làng đến chùa Dâu để cầu tự. Ngài đã 40 tuổi mà vẫn chưa
có một hoàng nam nào nên vẫn thường đến những nơi linh thiêng
để cầu xin. Khiết nghe tin, trong lòng cũng muốn được biết mặt
rồng, nhưng bận rộn nên cô cũng quên bẵng đi.
17
Hôm ấy, trong nhà đã hết lá dâu, Khiết ra nương hái. Nắng xuyên
qua vườn dâu xanh mướt, ánh lên mặt người con gái đang ửng
hồng vì vội vã. Bỗng từ đằng xa, một đoàn quân rầm rộ đi đến.
Vó câu của đấng thiên tử gõ đều, theo sau là đoàn Thiên tử binh.
Các chức dịch trong làng ăn mặc chỉnh tề, chắp tay lại bên đường.
Dân chúng ùa ra, hớn hở tung hô: Thánh cung vạn phúc! Ai cũng
muốn tận mắt chiêm ngưỡng vị vua có tiếng nhân từ này.
18
Nhà vua vui mừng miễn lễ cho các thần dân. Ngài đưa mắt nhìn
ngắm phong cảnh của vùng quê êm đềm và bỗng thấy trên nương
dâu thấp thoáng bóng dáng yêu kiều của một người con gái đang
mải mê hái lá. Vó câu đột ngột dừng lại. Hai tay đang thoăn thoắt
hái dâu, nghe tiếng reo hò, Khiết quay lại. Ồ kìa, nhà vua đã đến.
Cô ngừng tay rồi ngập ngừng đến nép bên gốc lan nhìn ra.
19
20
Thấy lạ, vua quay qua hỏi trưởng làng:
- Người con gái ấy là ai thế?
- Muôn tâu bệ hạ, đấy là Lê Thị Khiết,
con gái Thổ Lỗi ạ.
- Thật là một người siêng năng. Hãy gọi
nàng đến ra mắt ta.
21
Được diện kiến long nhan, Khiết không khỏi bồi hồi, nhưng
cô cố trấn tĩnh. Nhà vua hỏi về gia cảnh của cô, về sức khỏe cha
già, đặc biệt, ngài tìm hiểu về việc chăn tằm, dệt lụa. Câu nào cô
cũng trả lời lưu loát. Cuối cùng, cô nói:
- Muôn tâu bệ hạ, hiện lũ tằm ăn rỗi háu đói đang chờ tiện thiếp
ở nhà. Xin bệ hạ thứ tội.
22
Nhà vua ngỡ ngàng trước người con gái xinh đẹp, nết na. Không
tiện giữ nàng lâu, ngài sai một Thiên tử binh đi theo gánh thúng
dâu cho Khiết và bảo quan hộ giá(*) đưa Khiết về nhà.
Trở về cung, nhà vua không thể quên cô thôn nữ xinh xắn ấy.
Ngài quyết định cưới cô làm vợ.
(*) Quan đi theo để bảo và phục dịch cho vua.
23
Thổ Lỗi được tin báo. Thật là một vinh hạnh lớn cho nàng. Các
quan viên hàng xã một mặt chuẩn bị đón quan hoạn và đoàn tùy
tùng đại diện cho nhà trai; một mặt lo đưa tiễn cô dâu. Làng Thổ
Lỗi như ngày vào hội. Mọi người nô nức sửa soạn. Các đinh(*)
làng được phân công lo việc ở đình làng, còn đám phụ nữ thì đi
giúp đỡ Khiết.
(*) Đinh là trai tráng đến tuổi phải đóng thuế thân và đi lính dưới thời
phong kiến.
24
Đình làng được dọn dẹp sạch sẽ. Bia Thần Nông và Thần Hổ
được chà quét cho tươi tắn. Các cây kiểng nhái theo hình các
con thú như nai, hạc... được các nghệ nhân tỉa tót lại cho sắc sảo.
Tượng Thành hoàng(*) được lau chùi lại cho kỹ càng. Các tấm liễn
sơn son thếp vàng ánh trực lên những hàng câu đối.
(*) Thành hoàng là những người có công kiến tạo, xây dựng ngôi làng.
Khi họ mất, dân làng tôn họ lên làm thần. Đến thời nhà Lê, các Thành
hoàng còn được phong làm “Trung đẳng thần”.
25
Trong khi dân làng đang rộn rịp chuẩn bị thì ở nhà Khiết, một
không khí lặng lẽ đang bao trùm. Cha Khiết ngồi trầm ngâm bên
chén trà, còn Khiết thì mắt đẫm lệ. Từ khi diện kiến cùng vua
Lý Thánh Tông, cô đã thấy được tình ý của ngài. Nhưng cảnh
phân ly làm cho cô thắt lòng. Thêm nữa, viễn cảnh cuộc sống tù
túng của một cung nhân trong cấm thành cứ ám ảnh cô.
26
Cuối cùng cha cô an ủi với giọng nghẹn ngào:
- Âu cũng là số phận, con ạ. Con gắng làm vui lòng đấng
Thiên tử! Được thế, cha cũng nguôi ngoai.
- Vâng, thưa cha, con sẽ cố gắng. Không biết cha con mình có
còn được gặp nhau không? Con xin cha hãy bảo trọng.
27
Cha con cô không còn kịp để nói chuyện riêng nữa. Các bà
các cô trong làng đã đến. Cũng cám cảnh chia ly, họ không
tíu tít như thường ngày mà nhẹ nhàng lo thay áo, trang điểm
cho Khiết.
Viên hoạn quan đến cùng chiếc kiệu và một toán quân lính.
Ông được rước vào đình để nghỉ ngơi và uống vài chén rượu
chung vui với các quan viên.
28
Sau đó, cả đoàn gồm viên quan hoạn và các chức sắc trong làng
đến nhà rước Khiết. Khiết nén buồn, thắp nén hương lạy bàn thờ
của mẹ, rồi quay lại từ biệt cha(*). Cô cũng không quên cúi chào
các quan viên, láng giềng, bạn bè, đoạn quyến luyến lên kiệu.
Chiếc mành buông xuống, nước mắt cô cũng tuôn theo. Thế là giã
từ cuộc sống hồn nhiên để bước vào tương lai xa lạ.
* Có sách nói Ỷ Lan còn có mẹ kế.
29
Trước khi cưới Khiết, vua Lý Thánh Tông đã có hoàng hậu
và một số phi tần(*). Hoàng hậu Thượng Dương không có con,
còn các bà phi thì đã sinh cho vua hai người con gái. Đó là công
chúa Thuận Thiên và công chúa Thiên Thành. Hoàng hậu Thượng
Dương xinh đẹp và đoan chính, rất được nhà vua nể trọng. Bà
cũng mong nhà vua có con trai để nối dõi, nên không phản đối gì
khi Khiết nhập cung.
(*) Phi là vợ thứ của vua.
30
Lúc mới vào cung, Khiết tuy được vua yêu dấu, nhưng cô không
có địa vị gì mà cũng chỉ như những cung nhân khác. Dần dà, nhờ
thông minh và ham học hỏi, cô hiểu biết được nhiều điều chính
sự và chia sẻ cùng vua những việc triều chính khó khăn. Vì thế,
vua càng ngày càng tin tưởng người con gái dân dã ấy và thường
bàn luận với nàng những lúc gặp vấn đề nan giải.
31
Để tỏ lòng ưu ái cùng Khiết, nhà vua phong nàng lên hàng phi
và dành cho một cung điện lộng lẫy sang trọng. Vua thân ái đặt cho
cung ấy là Ỷ Lan(*) nhằm giữ mãi kỷ niệm buổi gặp gỡ ban đầu khi
Khiết đứng tựa gốc lan bên nương dâu. Từ đấy, Khiết được gọi là Ỷ
Lan phu nhân. Nàng ngày đêm mong đợi một đứa con trai để không
phụ lòng yêu thương của nhà vua.
* Ỷ Lan có nghĩa là dựa vào cây lan
32
Thế nhưng Ỷ Lan nhập cung đã một năm mà vẫn chưa có thai.
Nhà vua vô cùng lo lắng sai viên Chỉ hầu là Nguyễn Bông đi
cầu tự ở chùa Thánh Chúa (chùa này nay vẫn còn ở phường Dịch
Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Nhà sư trụ trì chùa Thánh Chúa
và Đại Viên vốn là người nổi tiếng có phép thuật. Ông bày cho
Nguyễn Bông hãy nấp vào buồng tắm của Ỷ Lan, đợi khi nàng
tắm thì hóa thân đầu thai.
33
Nhưng âm mưu không thành, Ỷ Lan trong
một dịp đi tắm, phát hiện được kẻ lạ đang
ẩn trong buồng tắm của mình liền tri hô lên.
Chuyện vỡ lở, tham vọng của Nguyễn Bông
bị bại lộ. Y bị bắt và chém đầu ở cánh đồng
phía tây chùa Thánh Chúa. Từ đấy, cánh đồng
ấy được gọi tên là cánh đồng Bông. Trên đây
chỉ là truyền thuyết, chứng tỏ thời ấy vẫn còn
thịnh hành nhiều chuyện hoang đường.
34
Nhà vua rất buồn phiền, lại cho xây
chùa ở nhiều nơi để cầu tự. Mãi đến
hơn ba năm sau khi nhập cung. Ỷ Lan
mới có thai. Nhà vua vô cùng mừng rỡ,
cho rước nàng sang điện Động Tiên ở
phía đông Đại nội. Đây là nơi vua ở,
được xây dựng vào năm 1063. Sang năm
1066, Ỷ Lan khai hoa nở nhụy, sinh ra
được một hoàng nam trong sự hồi hộp
chờ đợi của tất cả mọi người.
35
Thật ra không có niềm vui nào to
lớn bằng. Nỗi mong đợi, lo lắng canh
cánh bên lòng đã được giải tỏa. Nhà
vua đặt tên cho con trai là Càn Đức và
lập ngay làm Thái tử. Vua càng thương
yêu Ỷ Lan hơn, phong cho nàng lên
làm Nguyên phi, đứng đầu các hoàng
phi trong cung. Từ đấy, địa vị của Ỷ
Lan chỉ đứng sau Hoàng hậu Thượng
Dương mà thôi.
36
Trong hạnh phúc, nhà vua vẫn không quên ngôi làng Thổ Lỗi
mộc mạc xưa kia. Để đề cao nơi đã sinh ra người con gái tài đức
vẹn toàn và là quê ngoại của Thái tử, vua Lý Thánh Tông đổi tên
làng Thổ Lỗi thành Siêu Loại (1068), có nghĩa là vượt lên trên hết.
37
Theo lệ thời ấy, Càn Đức gọi Hoàng hậu Thượng Dương là đích
mẫu và gọi Ỷ Lan là sinh mẫu, vì tất cả con cái, dù là con của
người vợ nào, đều được xem là con của người vợ chính. Thượng
Dương rất vui mừng và an tâm vì từ đây, nhà vua cất được nỗi lo
trong lòng và bà cũng bớt băn khoăn về nỗi không con của mình.
38
Càn Đức được chăm sóc chu đáo nên khỏe mạnh, chóng lớn.
Ỷ Lan bận rộn với con nhưng vẫn giúp vua việc triều chính. Bà
còn chú ý đến nghề tằm tang, lập riêng một đội chuyên dệt gấm,
lụa. Các cung nữ được bà truyền nghề và trở nên thông thạo trong
việc chăn tằm ươm tơ, không kém gì cô Khiết ngày xưa. Gấm, lụa
họ dệt ra đủ cung cấp cho cung cấm, vì vậy nhà nước không cần
nhập gấm, lụa của Tống nữa.
39
Một đứa con trai quả thật đã làm an lòng vua Lý Thánh Tông.
Ngài nghĩ đến những chuyến viễn hành để củng cố thanh thế.
Năm 1069, nước Chiêm Thành liên kết cùng nước Tống và được
Tống bán cho nhiều ngựa chiến. Có hậu thuẫn của nước lớn, vua
Chiêm Thành trở mặt và bắt đầu dòm ngó Đại Việt. Vua Lý Thánh
Tông vô cùng tức giận, quyết định thân chinh tiễu phạt.
40
Sau buổi lễ thề Đồng Cổ(*), nhà vua cho gọi Nguyên phi Ỷ Lan
đến diện kiến. Trước mặt bá quan văn võ, ngài trao quyền trị nước
cho Ỷ Lan, còn thái sư Lý Đạo Thành được cử làm phụ chính. Sắp
xếp xong xuôi, vua cùng Nguyên soái Lý Thường Kiệt và binh sĩ
lên thuyền bắt đầu cuộc viễn chinh.
* Cuộc lễ thề vì trung và hiếu (xem tập “Xây đắp nhà Lý”).
41
Được nhà vua giao trọng trách, Ỷ Lan rất hân
hoan, bà tự tin rằng mình có thể hoàn thành được
nhiệm vụ. Thêm nữa, bà càng yên tâm khi được
Thái sư Lý Đạo Thành giúp sức. Thái sư Lý Đạo
Thành vốn là người tin cẩn của Lý Thánh Tông.
Ông rất tôn sùng Nho giáo, tính tình ngay thẳng,
hết lòng chăm lo việc triều chính và bao giờ cũng
chỉ có nghĩ đến việc lợi cho dân cho nước.
42
Cầm quyền trị nước trong
tay, Ỷ Lan để ý đến mọi lĩnh
vực, từ kinh tế cho đến xã hội,
văn hóa. Bà chú trọng đến nông
nghiệp, mở kho phát chẩn cho
những vùng đói, đặc biệt tích cực
nghiêm cấm việc giết trâu. Thời
ấy, kinh tế trong nước chủ yếu là
làm ruộng. Mà cày bừa thì toàn
nhờ vào sức của con trâu. Cho
nên việc nhà nước ngăn cấm dân
chúng giết trâu đã bảo đảm sức
kéo cho nông nghiệp.
43
Ỷ Lan khuyến khích các hoạt động thủ công, nhất là nghề ươm
tơ dệt lụa. Bà tự tay chăn tằm dệt lụa để làm gương cho dân chúng.
Các làng trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa được bà quan tâm giúp đỡ.
Ở đâu có giống tằm tốt bà đem cho phổ biến khắp nơi. Nhờ đó,
nghề này càng ngày càng được phát triển và hoàn thiện.
44
Nghề gốm cũng được nâng đỡ. Những bát đĩa, ấm chén, bình
lọ có lớp men màu ngà rất tinh xảo. Đặc biệt nhất là loại sứ men
xanh, trong như ngọc. Vì chịu ảnh hưởng của Phật giáo, hoa văn
trang trí của các đồ gốm sứ chủ yếu là hoa sen với nhiều trạng
thái: hoa còn phong nhụy, hoa nở, hoa tàn...
45
Cuộc sống dân chúng ngày một sung túc, do
đó các trò vui chơi giải trí cũng được mở ra. Trò
múa rối nước mang tính nghệ thuật đặc sắc có
điều kiện phát triển. Đây là một trò chơi của cư
dân vùng sông nước Đại Việt, ca ngợi cuộc sống
thanh bình, cảnh an cư lạc nghiệp. Vào các ngày
lễ hội, rối nước được trình diễn trên ao làng, đem
lại cho dân chúng những giây phút vui vẻ sau
những ngày làm mùa mệt nhọc.
46
Trong khi ấy, vua Lý Thánh Tông cùng đoàn quân xông pha
nơi sa trường. Nhiều cuộc chạm trán kịch liệt xảy ra. Vùng đất
xa lạ với gió chướng, bão táp càng làm tăng thêm nỗi khó nhọc
cho kẻ viễn chinh. Địch thủ lại chiến đấu rất kiên cường. Quân
Đại Việt bị tổn hao. Thấy chiến sự kéo dài, nhà vua lo lắng,
sợ vắng mặt trong nước lâu ngày thì không hay. Vì thế, ngài
quyết định tạm lui binh.
47
Đoàn thuyền quay lại hướng bắc, trở về. Lênh đênh trên mặt biển
mấy ngày thì đến hải phận châu Cư Liên(*). Vua cho ghé thuyền nghỉ
ngơi. Một toán quân trinh sát được cử lên bờ thăm thú tình hình. Đâu
đâu họ cũng nghe lời ca ngợi bà Ỷ Lan vì tài nội trị, an dân, đem lại
đất nước cảnh thanh bình.
* Chưa biết châu Cư Liên hiện nay là ở đâu.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ỷ Lan Nguyên phi / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.17).
1. Ỷ Lan, 1044-1117. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Lý, 1009-1225 — Sách tranh.
I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Ỷ Lan, 1044-1117. 2. Vietnam — History — Ly dynasty, 1009-1225 — Pictorial works
959.7023092 — dc 22
Y11
Lời giới thiệu
Việc người phụ nữ tham gia triều chính trong lịch sử nước
ta vốn đã là hiếm. Không những vậy, người phụ nữ ấy với tài
năng và đức độ của bản thân lại trở thành một trong những
danh nhân có tài trị nước. Người ấy chính là Nguyên phi Ỷ Lan.
Vốn chỉ là cô thôn nữ, vào cung, được vua Lý Thánh Tông
tin tưởng trao quyền nhiếp chính khi người đích thân chinh
phạt Chiêm Thành, và khi nhiếp chính với cương vị Hoàng thái
hậu, Nguyên phi Ỷ Lan góp phần không nhỏ trong việc ổn định
chính sự, giúp cho trong nước yên ổn, lòng dân vui vẻ, được
nhân dân quý trọng, tôn vinh.
Dầu vậy, đời người không tránh được sai lầm, sử cũ vẫn ghi
lại chuyện Thượng Dương hoàng hậu cùng 72 vị cung nữ đã
làm cả đời bà day dứt, xây dựng chùa chiền, sám hối, rửa oan.
Do vậy, bà rất tinh thông Phật pháp, là người “hiểu sâu tôn
chỉ” đạo Phật, cùng với tài văn chương, bà đã để lại cho đời
bài kệ vẫn còn lưu lại trong Thiền uyển tập anh rất có giá trị.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 17 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Ỷ Lan nguyên phi” phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 17 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyên phi Ỷ Lan là vợ vua Lý Thánh Tông, và là mẹ
vua Lý Nhân Tông trong lịch sử Việt Nam. Với tài năng
và đức độ của mình, Ỷ Lan đã được vua Lý Thánh Tông
trao quyền điều khiển chính sự khi người thân chinh cầm
quân chinh phạt Chiêm Thành năm Kỷ Dậu (1069). Khi
vua Lý Nhân Tông lên ngôi, do còn nhỏ tuổi, dưới sự
giúp đỡ của cả Lý Đạo Thành và Lý Thường Kiệt, bà ra
tài ổn định và phát triển đất nước, đập tan âm mưu xâm
lược của ngoại bang.
Mùa thu năm năm Đinh Dậu (1117), Ỷ Lan mất, hỏa
táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức (đền Lý Bát Đế).
4
Ỷ Lan, theo một số sách thì có tên thật là Lê Thị Khiết, quê ở
làng Thổ Lỗi, Gia Lâm, Hà Nội(*). Khiết sinh trưởng trong một
gia đình làm ruộng, có nghề trồng dâu nuôi tằm. Sống giản dị ở
làng quê êm đềm nên theo nếp nhà, Khiết đã chăm chỉ làm việc
từ nhỏ. Lớn lên, cô trở thành một cô gái khéo léo, nuôi tằm, dệt lụa
không thua một ai trong vùng.
* Có tài liệu nói là huyện Mỹ Văn - Hưng Yên.
5
Khiết không những khéo tay, chăm chỉ, mà còn là một cô gái
khỏe mạnh và xinh đẹp. Do thức khuya dậy sớm, luôn tay vận
động nên cô có một sức khỏe dẻo dai. Trời còn phú cho cô một
làn da trắng hồng, nụ cười duyên dáng và giọng ca ngọt ngào. Vào
những đêm trăng, cô vừa dệt lụa vừa ngân nga hát. Tiếng hát thanh
trong, cao vút lơ lửng trong không gian, làm xao xuyến lòng người.
6
Nhiều chàng trai say đắm giọng ca, nết ở của cô, nhờ mai mối
đến đưa lời với cha Khiết mong cụ nhận lời mà gả con cho. Nhưng
cha Khiết vốn yêu thương con gái nên không muốn ép duyên con.
Cụ để cho Khiết tự lựa chọn. Còn Khiết dù cũng có bâng khuâng,
nhưng thương cha già, chưa muốn rời xa.
7
Mẹ Khiết mất khi cô vừa chớm lớn. Tuy thế bà cũng kịp truyền
lại nghề nuôi tằm, dệt lụa cho cô. Cô nuôi lứa tằm nào cũng trúng.
Bởi cô chọn mua trứng ngài(*) của những lái buôn quen biết nên
lần nào cũng được họ dành cho thứ tốt. Cô treo trứng ngài vào chỗ
mát cho đến khi nở ra sâu nho nhỏ thì để vào nong(**). Vì nhà neo
người nên mỗi lứa cô chỉ nuôi vài chục nong.
(*) Ngài là bướm do tằm biến thành.
(**) Nong là dụng cụ đan bằng tre rất khít, hình tròn, lòng rộng và cạn,
khá to, dùng để phơi, đựng.
8
Vào những lúc tằm ăn rỗi, cô làm việc không nghỉ tay. Cô rất
cẩn thận, chỉ chọn hái những lá dâu tươi xanh. Hái về, cô không
cho tằm ăn ngay mà bao giờ cũng hong thật khô rồi mới thái thành
những sợi mỏng như tơ. Sợi lá càng nhỏ, tằm tiêu hóa càng dễ
dàng nên chóng lớn. Mỗi ngày phải cho tằm ăn đến ba mươi sáu
lần nên có khi Khiết quên cả ăn cả ngủ.
9
Cha cô phải nhờ một cậu bé trong họ cùng cô săn sóc tằm. Tằm
ăn rỗi một tuần thì cô mới được thong thả hơn. Lá dâu không còn
phải thái nhỏ nữa mà tằm cũng chỉ ăn có năm, sáu lần trong ngày
mà thôi. Tuy vậy, buồng nuôi tằm vẫn phải giữ thông khí và sạch
sẽ. Hễ trời trở nóng thì mở cửa cho mát, trời trở lạnh thì phải đóng
ngay, nếu không tằm sẽ chết. Tằm cũng không chịu được gió lùa.
Gió thổi phía nào thì phải che phía ấy để bảo vệ tằm.
10
Ngoài ra còn phải xua ruồi, đuổi chuột. Nếu ruồi đậu vào tằm
thì sẽ đẻ trứng, bọ ruồi sẽ ăn kén tằm về sau này. Còn các chú
chuột thì rất khoái chén những con tằm béo ngậy. Cậu em họ của
Khiết tinh mắt, thường giúp Khiết loại bỏ những con tằm xấu, vì
tằm xấu chẳng cho tơ mà còn ăn tốn lá dâu nữa.
11
Khiết nuôi chừng hai bốn, hai lăm ngày là tằm chín, sẵn sàng
nhả tơ. Cô bắt tằm lên né(*) rồi đem phơi dưới nắng để cho tằm làm
tổ. Khi có được kén(**) rồi thì chỉ trong ba ngày là cô phải ươm tơ
ngay. Nếu chậm trễ, nhộng sẽ cắn kén chui ra, làm hỏng hết cả tơ.
(*) Né là dụng cụ làm bằng phên đan thưa, thường có nhét rơm, dùng đặt tằm
khi đã chín, để cho tằm làm tổ.
(**) Tổ bằng tơ mà tằm tự nhả ra để ẩn lúc hóa thành nhộng.
12
Ươm tơ(*) là một công việc rất khó khăn, nhưng nhờ mẹ đã chỉ
bảo cẩn thận nên Khiết rất thông thạo. Cô nấu nước sôi rồi lần
lượt bỏ những cái kén vào nồi. Tay cô cầm đũa, thoăn thoắt nhào
đi nhào lại mớ kén để lấy sợi gốc. Lấy được rồi, cô bỏ đũa, dùng
tay kéo tơ. Cứ bảy con kén, cô chập lại thành một sợi. Nếu có mối
nào đứt thì cô nhanh tay nối ngay.
(*) Ươm tơ là kéo sợi tơ từ kén ra.
13
Sợi tơi được nối vào gàng(*) và cậu bé trai ngoan ngoãn quay
đều tay dưới sự chỉ dẫn của người chị họ đảm đang. Khi nào gàng
nặng ước chừng bốn năm lạng, cậu bé quấn mối lại rồi đem phơi
nơi thoáng gió và sạch sẽ. Trong khi đó, Khiết vẫn tiếp tục ươm tơ.
(*) Dụng cụ bằng gỗ có hình lục lăng để quấn tơ vào.
14
Tơ do Khiết làm ra khi nào cũng vàng mượt và óng ánh ngũ
sắc. Với những cuộn tơ ấy, cô dệt thành những tấm lụa mịn màng.
Các lái buôn thường tìm đến cô để mua. Nhờ thế, tuy gia cảnh đơn
sơ, nhưng trong nhà chưa bao giờ túng thiếu. Còn Khiết, dù tự tay
làm ra nhưng chưa bao giờ cô dám may cho mình một chiếc
áo lụa. Quanh năm cô chỉ mặc một thứ vải nâu sồng mộc mạc.
15
Hàng đêm, tiếng khung cửi dệt lụa hòa trong tiếng học bài ê a
của cậu em. Hai chị em mải mê, người dệt, người học cho đến tận
khuya. Thỉnh thoảng, người cha thức giấc ra châm đèn đuổi muỗi
cho con hoặc nhấm nháp chén rượu thuốc. Nhìn con siêng năng,
hài lòng nhưng không khỏi áy náy cho nhân duyên của con gái.
16
Rồi năm ấy (1062), làng Thổ Lỗi cũng đang vào đợt nuôi tằm.
Khiết tất bật lo toan. Nhằm lúc tằm nhà đang ăn rỗi, Khiết hái
dâu, thái lá không ngừng tay. Có tin loan rằng nhà vua sẽ đi ngang
qua làng đến chùa Dâu để cầu tự. Ngài đã 40 tuổi mà vẫn chưa
có một hoàng nam nào nên vẫn thường đến những nơi linh thiêng
để cầu xin. Khiết nghe tin, trong lòng cũng muốn được biết mặt
rồng, nhưng bận rộn nên cô cũng quên bẵng đi.
17
Hôm ấy, trong nhà đã hết lá dâu, Khiết ra nương hái. Nắng xuyên
qua vườn dâu xanh mướt, ánh lên mặt người con gái đang ửng
hồng vì vội vã. Bỗng từ đằng xa, một đoàn quân rầm rộ đi đến.
Vó câu của đấng thiên tử gõ đều, theo sau là đoàn Thiên tử binh.
Các chức dịch trong làng ăn mặc chỉnh tề, chắp tay lại bên đường.
Dân chúng ùa ra, hớn hở tung hô: Thánh cung vạn phúc! Ai cũng
muốn tận mắt chiêm ngưỡng vị vua có tiếng nhân từ này.
18
Nhà vua vui mừng miễn lễ cho các thần dân. Ngài đưa mắt nhìn
ngắm phong cảnh của vùng quê êm đềm và bỗng thấy trên nương
dâu thấp thoáng bóng dáng yêu kiều của một người con gái đang
mải mê hái lá. Vó câu đột ngột dừng lại. Hai tay đang thoăn thoắt
hái dâu, nghe tiếng reo hò, Khiết quay lại. Ồ kìa, nhà vua đã đến.
Cô ngừng tay rồi ngập ngừng đến nép bên gốc lan nhìn ra.
19
20
Thấy lạ, vua quay qua hỏi trưởng làng:
- Người con gái ấy là ai thế?
- Muôn tâu bệ hạ, đấy là Lê Thị Khiết,
con gái Thổ Lỗi ạ.
- Thật là một người siêng năng. Hãy gọi
nàng đến ra mắt ta.
21
Được diện kiến long nhan, Khiết không khỏi bồi hồi, nhưng
cô cố trấn tĩnh. Nhà vua hỏi về gia cảnh của cô, về sức khỏe cha
già, đặc biệt, ngài tìm hiểu về việc chăn tằm, dệt lụa. Câu nào cô
cũng trả lời lưu loát. Cuối cùng, cô nói:
- Muôn tâu bệ hạ, hiện lũ tằm ăn rỗi háu đói đang chờ tiện thiếp
ở nhà. Xin bệ hạ thứ tội.
22
Nhà vua ngỡ ngàng trước người con gái xinh đẹp, nết na. Không
tiện giữ nàng lâu, ngài sai một Thiên tử binh đi theo gánh thúng
dâu cho Khiết và bảo quan hộ giá(*) đưa Khiết về nhà.
Trở về cung, nhà vua không thể quên cô thôn nữ xinh xắn ấy.
Ngài quyết định cưới cô làm vợ.
(*) Quan đi theo để bảo và phục dịch cho vua.
23
Thổ Lỗi được tin báo. Thật là một vinh hạnh lớn cho nàng. Các
quan viên hàng xã một mặt chuẩn bị đón quan hoạn và đoàn tùy
tùng đại diện cho nhà trai; một mặt lo đưa tiễn cô dâu. Làng Thổ
Lỗi như ngày vào hội. Mọi người nô nức sửa soạn. Các đinh(*)
làng được phân công lo việc ở đình làng, còn đám phụ nữ thì đi
giúp đỡ Khiết.
(*) Đinh là trai tráng đến tuổi phải đóng thuế thân và đi lính dưới thời
phong kiến.
24
Đình làng được dọn dẹp sạch sẽ. Bia Thần Nông và Thần Hổ
được chà quét cho tươi tắn. Các cây kiểng nhái theo hình các
con thú như nai, hạc... được các nghệ nhân tỉa tót lại cho sắc sảo.
Tượng Thành hoàng(*) được lau chùi lại cho kỹ càng. Các tấm liễn
sơn son thếp vàng ánh trực lên những hàng câu đối.
(*) Thành hoàng là những người có công kiến tạo, xây dựng ngôi làng.
Khi họ mất, dân làng tôn họ lên làm thần. Đến thời nhà Lê, các Thành
hoàng còn được phong làm “Trung đẳng thần”.
25
Trong khi dân làng đang rộn rịp chuẩn bị thì ở nhà Khiết, một
không khí lặng lẽ đang bao trùm. Cha Khiết ngồi trầm ngâm bên
chén trà, còn Khiết thì mắt đẫm lệ. Từ khi diện kiến cùng vua
Lý Thánh Tông, cô đã thấy được tình ý của ngài. Nhưng cảnh
phân ly làm cho cô thắt lòng. Thêm nữa, viễn cảnh cuộc sống tù
túng của một cung nhân trong cấm thành cứ ám ảnh cô.
26
Cuối cùng cha cô an ủi với giọng nghẹn ngào:
- Âu cũng là số phận, con ạ. Con gắng làm vui lòng đấng
Thiên tử! Được thế, cha cũng nguôi ngoai.
- Vâng, thưa cha, con sẽ cố gắng. Không biết cha con mình có
còn được gặp nhau không? Con xin cha hãy bảo trọng.
27
Cha con cô không còn kịp để nói chuyện riêng nữa. Các bà
các cô trong làng đã đến. Cũng cám cảnh chia ly, họ không
tíu tít như thường ngày mà nhẹ nhàng lo thay áo, trang điểm
cho Khiết.
Viên hoạn quan đến cùng chiếc kiệu và một toán quân lính.
Ông được rước vào đình để nghỉ ngơi và uống vài chén rượu
chung vui với các quan viên.
28
Sau đó, cả đoàn gồm viên quan hoạn và các chức sắc trong làng
đến nhà rước Khiết. Khiết nén buồn, thắp nén hương lạy bàn thờ
của mẹ, rồi quay lại từ biệt cha(*). Cô cũng không quên cúi chào
các quan viên, láng giềng, bạn bè, đoạn quyến luyến lên kiệu.
Chiếc mành buông xuống, nước mắt cô cũng tuôn theo. Thế là giã
từ cuộc sống hồn nhiên để bước vào tương lai xa lạ.
* Có sách nói Ỷ Lan còn có mẹ kế.
29
Trước khi cưới Khiết, vua Lý Thánh Tông đã có hoàng hậu
và một số phi tần(*). Hoàng hậu Thượng Dương không có con,
còn các bà phi thì đã sinh cho vua hai người con gái. Đó là công
chúa Thuận Thiên và công chúa Thiên Thành. Hoàng hậu Thượng
Dương xinh đẹp và đoan chính, rất được nhà vua nể trọng. Bà
cũng mong nhà vua có con trai để nối dõi, nên không phản đối gì
khi Khiết nhập cung.
(*) Phi là vợ thứ của vua.
30
Lúc mới vào cung, Khiết tuy được vua yêu dấu, nhưng cô không
có địa vị gì mà cũng chỉ như những cung nhân khác. Dần dà, nhờ
thông minh và ham học hỏi, cô hiểu biết được nhiều điều chính
sự và chia sẻ cùng vua những việc triều chính khó khăn. Vì thế,
vua càng ngày càng tin tưởng người con gái dân dã ấy và thường
bàn luận với nàng những lúc gặp vấn đề nan giải.
31
Để tỏ lòng ưu ái cùng Khiết, nhà vua phong nàng lên hàng phi
và dành cho một cung điện lộng lẫy sang trọng. Vua thân ái đặt cho
cung ấy là Ỷ Lan(*) nhằm giữ mãi kỷ niệm buổi gặp gỡ ban đầu khi
Khiết đứng tựa gốc lan bên nương dâu. Từ đấy, Khiết được gọi là Ỷ
Lan phu nhân. Nàng ngày đêm mong đợi một đứa con trai để không
phụ lòng yêu thương của nhà vua.
* Ỷ Lan có nghĩa là dựa vào cây lan
32
Thế nhưng Ỷ Lan nhập cung đã một năm mà vẫn chưa có thai.
Nhà vua vô cùng lo lắng sai viên Chỉ hầu là Nguyễn Bông đi
cầu tự ở chùa Thánh Chúa (chùa này nay vẫn còn ở phường Dịch
Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Nhà sư trụ trì chùa Thánh Chúa
và Đại Viên vốn là người nổi tiếng có phép thuật. Ông bày cho
Nguyễn Bông hãy nấp vào buồng tắm của Ỷ Lan, đợi khi nàng
tắm thì hóa thân đầu thai.
33
Nhưng âm mưu không thành, Ỷ Lan trong
một dịp đi tắm, phát hiện được kẻ lạ đang
ẩn trong buồng tắm của mình liền tri hô lên.
Chuyện vỡ lở, tham vọng của Nguyễn Bông
bị bại lộ. Y bị bắt và chém đầu ở cánh đồng
phía tây chùa Thánh Chúa. Từ đấy, cánh đồng
ấy được gọi tên là cánh đồng Bông. Trên đây
chỉ là truyền thuyết, chứng tỏ thời ấy vẫn còn
thịnh hành nhiều chuyện hoang đường.
34
Nhà vua rất buồn phiền, lại cho xây
chùa ở nhiều nơi để cầu tự. Mãi đến
hơn ba năm sau khi nhập cung. Ỷ Lan
mới có thai. Nhà vua vô cùng mừng rỡ,
cho rước nàng sang điện Động Tiên ở
phía đông Đại nội. Đây là nơi vua ở,
được xây dựng vào năm 1063. Sang năm
1066, Ỷ Lan khai hoa nở nhụy, sinh ra
được một hoàng nam trong sự hồi hộp
chờ đợi của tất cả mọi người.
35
Thật ra không có niềm vui nào to
lớn bằng. Nỗi mong đợi, lo lắng canh
cánh bên lòng đã được giải tỏa. Nhà
vua đặt tên cho con trai là Càn Đức và
lập ngay làm Thái tử. Vua càng thương
yêu Ỷ Lan hơn, phong cho nàng lên
làm Nguyên phi, đứng đầu các hoàng
phi trong cung. Từ đấy, địa vị của Ỷ
Lan chỉ đứng sau Hoàng hậu Thượng
Dương mà thôi.
36
Trong hạnh phúc, nhà vua vẫn không quên ngôi làng Thổ Lỗi
mộc mạc xưa kia. Để đề cao nơi đã sinh ra người con gái tài đức
vẹn toàn và là quê ngoại của Thái tử, vua Lý Thánh Tông đổi tên
làng Thổ Lỗi thành Siêu Loại (1068), có nghĩa là vượt lên trên hết.
37
Theo lệ thời ấy, Càn Đức gọi Hoàng hậu Thượng Dương là đích
mẫu và gọi Ỷ Lan là sinh mẫu, vì tất cả con cái, dù là con của
người vợ nào, đều được xem là con của người vợ chính. Thượng
Dương rất vui mừng và an tâm vì từ đây, nhà vua cất được nỗi lo
trong lòng và bà cũng bớt băn khoăn về nỗi không con của mình.
38
Càn Đức được chăm sóc chu đáo nên khỏe mạnh, chóng lớn.
Ỷ Lan bận rộn với con nhưng vẫn giúp vua việc triều chính. Bà
còn chú ý đến nghề tằm tang, lập riêng một đội chuyên dệt gấm,
lụa. Các cung nữ được bà truyền nghề và trở nên thông thạo trong
việc chăn tằm ươm tơ, không kém gì cô Khiết ngày xưa. Gấm, lụa
họ dệt ra đủ cung cấp cho cung cấm, vì vậy nhà nước không cần
nhập gấm, lụa của Tống nữa.
39
Một đứa con trai quả thật đã làm an lòng vua Lý Thánh Tông.
Ngài nghĩ đến những chuyến viễn hành để củng cố thanh thế.
Năm 1069, nước Chiêm Thành liên kết cùng nước Tống và được
Tống bán cho nhiều ngựa chiến. Có hậu thuẫn của nước lớn, vua
Chiêm Thành trở mặt và bắt đầu dòm ngó Đại Việt. Vua Lý Thánh
Tông vô cùng tức giận, quyết định thân chinh tiễu phạt.
40
Sau buổi lễ thề Đồng Cổ(*), nhà vua cho gọi Nguyên phi Ỷ Lan
đến diện kiến. Trước mặt bá quan văn võ, ngài trao quyền trị nước
cho Ỷ Lan, còn thái sư Lý Đạo Thành được cử làm phụ chính. Sắp
xếp xong xuôi, vua cùng Nguyên soái Lý Thường Kiệt và binh sĩ
lên thuyền bắt đầu cuộc viễn chinh.
* Cuộc lễ thề vì trung và hiếu (xem tập “Xây đắp nhà Lý”).
41
Được nhà vua giao trọng trách, Ỷ Lan rất hân
hoan, bà tự tin rằng mình có thể hoàn thành được
nhiệm vụ. Thêm nữa, bà càng yên tâm khi được
Thái sư Lý Đạo Thành giúp sức. Thái sư Lý Đạo
Thành vốn là người tin cẩn của Lý Thánh Tông.
Ông rất tôn sùng Nho giáo, tính tình ngay thẳng,
hết lòng chăm lo việc triều chính và bao giờ cũng
chỉ có nghĩ đến việc lợi cho dân cho nước.
42
Cầm quyền trị nước trong
tay, Ỷ Lan để ý đến mọi lĩnh
vực, từ kinh tế cho đến xã hội,
văn hóa. Bà chú trọng đến nông
nghiệp, mở kho phát chẩn cho
những vùng đói, đặc biệt tích cực
nghiêm cấm việc giết trâu. Thời
ấy, kinh tế trong nước chủ yếu là
làm ruộng. Mà cày bừa thì toàn
nhờ vào sức của con trâu. Cho
nên việc nhà nước ngăn cấm dân
chúng giết trâu đã bảo đảm sức
kéo cho nông nghiệp.
43
Ỷ Lan khuyến khích các hoạt động thủ công, nhất là nghề ươm
tơ dệt lụa. Bà tự tay chăn tằm dệt lụa để làm gương cho dân chúng.
Các làng trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa được bà quan tâm giúp đỡ.
Ở đâu có giống tằm tốt bà đem cho phổ biến khắp nơi. Nhờ đó,
nghề này càng ngày càng được phát triển và hoàn thiện.
44
Nghề gốm cũng được nâng đỡ. Những bát đĩa, ấm chén, bình
lọ có lớp men màu ngà rất tinh xảo. Đặc biệt nhất là loại sứ men
xanh, trong như ngọc. Vì chịu ảnh hưởng của Phật giáo, hoa văn
trang trí của các đồ gốm sứ chủ yếu là hoa sen với nhiều trạng
thái: hoa còn phong nhụy, hoa nở, hoa tàn...
45
Cuộc sống dân chúng ngày một sung túc, do
đó các trò vui chơi giải trí cũng được mở ra. Trò
múa rối nước mang tính nghệ thuật đặc sắc có
điều kiện phát triển. Đây là một trò chơi của cư
dân vùng sông nước Đại Việt, ca ngợi cuộc sống
thanh bình, cảnh an cư lạc nghiệp. Vào các ngày
lễ hội, rối nước được trình diễn trên ao làng, đem
lại cho dân chúng những giây phút vui vẻ sau
những ngày làm mùa mệt nhọc.
46
Trong khi ấy, vua Lý Thánh Tông cùng đoàn quân xông pha
nơi sa trường. Nhiều cuộc chạm trán kịch liệt xảy ra. Vùng đất
xa lạ với gió chướng, bão táp càng làm tăng thêm nỗi khó nhọc
cho kẻ viễn chinh. Địch thủ lại chiến đấu rất kiên cường. Quân
Đại Việt bị tổn hao. Thấy chiến sự kéo dài, nhà vua lo lắng,
sợ vắng mặt trong nước lâu ngày thì không hay. Vì thế, ngài
quyết định tạm lui binh.
47
Đoàn thuyền quay lại hướng bắc, trở về. Lênh đênh trên mặt biển
mấy ngày thì đến hải phận châu Cư Liên(*). Vua cho ghé thuyền nghỉ
ngơi. Một toán quân trinh sát được cử lên bờ thăm thú tình hình. Đâu
đâu họ cũng nghe lời ca ngợi bà Ỷ Lan vì tài nội trị, an dân, đem lại
đất nước cảnh thanh bình.
* Chưa biết châu Cư Liên hiện nay là ở đâu.
48
 





