13 Kho học liệu số dùng chung của Bộ Giáo dục

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

15 chuyên đề

Chủ đề năm học: 2025-2026:

KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LAI !.********* Với thông điệp: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là điều đáng quý". ```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````

Giới thiệu sách tháng 11

Bài hát: Trang sách mở ra thế giới

Bản tin

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tuần lễ áo dài

Lịch sử VN bằng tranh 18

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:03' 01-04-2025
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tái bản lần thứ 13

Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Đồ họa vi tính: Hoàng Lan Anh
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc

BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

Lý Thường Kiệt/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Lê Văn Năm biên soạn; họa sĩ Nguyễn
Quang Cảnh. Tái bản lần thứ 13. T.P. Hồ Chí Minh: Trẻ, 2013.
112tr.: minh họa; 21cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.18).
1. Lý Thường Kiệt, 10191105. 2. Tướng Việt Nam Tiểu sử. 3. Việt Nam Lịch sử
Triều đại nhà Lý, 10091225 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
1. Lý Thường Kiệt, 10191105. 2. Generals Vietnam Biography. 3. Vietnam History
Lý Dynasty, 10091225 Picture books.
959.7023092 – dc22
L981

LỜI GIỚI THIỆU

Sử sách nước ta xưa nay lưu danh biết bao anh hùng hào
kiệt. Mỗi danh tướng, danh nhân đều gắn với một giai đoạn biến
động trong lịch sử nước nhà.
Khi biên giới phía bắc thì giặc Tống không ngừng nhòm ngó,
nuôi mộng xâm lược để bóc lột dân ta, lấp cho đầy lại quốc khố
đang rỗng ruột. Nam thì Chiêm Thành ôm nỗi hận xưa, lại nghe
theo xúi giục của nhà Tống, manh nhe bắt tay nhau uy hiếp Đại
Việt. Thế mà may mắn thay, Đại Việt tuy nhỏ, vua còn trẻ tuổi
nhưng đã có cái bậc công thần tài giỏi trợ tá. Trong đó, bấy giờ
phải nhắc đến Lý Thường Kiệt. Chẳng những là người văn võ
toàn tài, hết lòng trợ vua trong việc quân binh, dốc lòng vì dân vì
nước. Không những thế, vì quốc gia, ông còn gạt mối hiềm riêng
với Lý Đạo Thành. Tài đã giỏi mà tâm lại sáng, nên sử sách còn
lưu mãi tên ông, làm tấm gương sáng cho người sau noi theo.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 18 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Lý Thường Kiệt” phần lời do Lê Văn
Năm biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 18 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

3

Sử cũ chép về Lý Thường Kiệt:
“Bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn
thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc,
lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai
dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa
từng có bao giờ?”
(Theo Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sĩ)

4

Lý Thường Kiệt quê tại phường Thái Hòa ở Thăng Long, khi
còn nhỏ có tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt. Về sau, ông
được vua Lý nhận làm con nuôi nên mang họ Lý. Thường Kiệt
chào đời vào năm Kỳ Mùi (1019), cha là An Ngữ, một võ quan
dưới triều vua Lý Thái Tổ. Tuấn còn có một người em trai tên là
Thường Hiến.

5

Ngay từ lúc còn nhỏ, Thường Kiệt đã tỏ ra ham thích võ nghệ.
Cậu say mê xem cha tập luyện, nhất là xem các buổi tranh tài,
những cuộc đấu vật, thi võ, đua thuyền được tổ chức ở kinh đô.
Hình ảnh những võ tướng uy nghi trên lưng ngựa dẫn đầu đoàn
quân càng hun đúc trong cậu niềm mong muốn được nối nghiệp
cha. Vì thế, về nhà, Thường Kiệt thường cùng các bạn bày trò
đánh vật, nhảy thi, tập bắn tên bằng cung tre.
6

Ông An Ngữ thấy con ham thích võ nghệ nên dạy cho con vài
bài quyền để múa cho vui, không ngờ Thường Kiệt học thuộc
nhanh và đi quyền rất đẹp mắt, ai thấy cũng khen ngợi. Thế là từ
đó, hai cha con thường luyện võ trước sân nhà. Ông An Ngữ rất
vui khi thấy con trai mình tỏ ra có năng khiếu khác thường.
7

Sau đó, Thường Kiệt còn được cha cho học thêm chữ Nho để
không thua kém chúng bạn ở chốn kinh thành. Được đi học, lúc
nào cậu cũng siêng năng, chăm chỉ, nhưng cũng không quên tập
luyện võ nghệ. Chính vì thế cậu luôn được thầy chú ý chỉ bảo thêm
nên ngày một giỏi giang. Bạn bè đều yêu mến và khâm phục cậu.

8

Năm Thường Kiệt 12 tuổi, ông An Ngữ lâm bệnh nặng và qua
đời trong một chuyến đi thị sát ở vùng Thanh Hóa. Thường Kiệt
thương cha than khóc khôn nguôi. Từ đó, cậu càng quyết tâm học
tập và luyện rèn võ nghệ để không phụ lòng cha. Cậu luôn bày tỏ
ý hướng của mình: “Muốn theo gương người xưa, đi xa ngàn dặm
để lập công, lấy ấn phong hầu làm vẻ vang cho cha mẹ”. Người
cậu là Tạ Đức khen Thường Kiệt có chí lớn nên thường xuyên đi
lại giúp đỡ mẹ con cậu.

9

Mấy năm trôi qua, Thường Kiệt đã trở thành một chàng trai
khôi ngô, tuấn tú. Chàng được ông Tạ Đức gả cô cháu gái tên là
Thuần Khanh cho. Ngoài ra, ông còn chỉ vẽ thêm cho chàng các
sách về binh thư. Thường Kiệt càng đọc càng say mê. Từ đó, người
ta thấy chàng đêm đêm chong đèn đọc sách đến khuya; ngày ngày
luyện tập bắn cung, cưỡi ngựa, dàn thế trận...

10

Năm Thường Kiệt 18 tuổi thì mẹ mất. Chàng cùng em trai chăm
lo mọi lễ tống táng rất chu tất. Lúc hết cư tang, triều đình theo lệ
phụ ấm (nghĩa là bổ con các quan lại có công ra làm quan) sung
Thường Kiệt vào làm Kỵ mã Hiệu úy, một chức quan nhỏ trong
đội kỵ binh.
11

Thế là từ đó, Thường Kiệt có dịp thi thố tài năng theo sở
nguyện. Lúc nào vị võ quan trẻ tuổi này cũng được mọi người
đặc biệt chú ý không phải chỉ vì vẻ khôi ngô tuấn tú mà còn vì
sự dũng cảm, mưu lược và đặc biệt là tài năng xuất sắc. Chính vì
thế, vua Lý Thái Tông đã để ý đến chàng và muốn cất nhắc chàng
làm người thân cận bên mình.

12

Được nhà vua khuyến khích, Thường
Kiệt đã tự hoạn để vào làm cận vệ trong
cung. Chàng được trao chức Hoàng môn
Chi hậu. Lúc bấy giờ chàng mới 23 tuổi.
Với tài năng của mình, càng ngày Thường
Kiệt càng được vua tin tưởng và giao cho
nhiều trọng trách.

13

Khi vua Lý Thánh Tông nối ngôi (1054)
Thường Kiệt được giao làm Bổng hành quân
Hiệu úy, một chức võ quan cao cấp. Hàng
ngày, được hầu cận bên vua, ông hết lòng giúp
vua trong mọi việc, hiến những ý hay, can gián
những điều không nên. Vì thế, ông được thăng
dần đến Kiểm hiệu Thái bảo, một chức quan
lớn trong triều.

14

Năm 1061, dân các động ở vùng Ngũ Huyện Giang (Thanh
Hóa) nổi dậy chống triều đình. Bình ổn vùng này là một việc rất
khó khăn. Tin vào tài thao lược của Thường Kiệt, vua Lý Thánh
Tông giao phó trọng trách này cho ông.

15

16

Khi đến nơi, Thường Kiệt không vội trấn áp. Ông tìm hiểu dân
tình và rất xúc động khi thấy dân ở đây rất nghèo và đang bị đói.
Thấy thế, ông vỗ về, giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, lại hướng dẫn
trồng trọt, chăn nuôi. Nhờ vậy, nhà nhà đều đủ cơm ăn, áo mặc.
Từ đó, ông khuyên nhủ các động chủ nên bãi binh để tránh việc
đổ máu vô ích. Chỉ ít lâu sau, tất cả các châu động trong vùng đều
quy phục triều đình, nhân dân lại được sống bình an.

17

Bấy giờ, ở biên giới phía nam Đại Việt, vua Chế Củ của nước
Chiêm Thành vẫn nuôi mối hận bại trận dưới đời Lý Thái Tổ trước
đây nên lo chuẩn bị vũ khí, thuyền chiến và luyện tập binh mã.
Chế Củ sai sứ sang Trung Quốc tỏ ý muốn dựa vào nhà Tống để
chống Đại Việt và xin mua ngựa chiến. Việc đó rất phù hợp với
ý muốn của vua Tống nên được nhà Tống ủng hộ.

18

Khi thấy binh lực mình đã mạnh, Chế Củ cắt hẳn quan hệ với
triều Lý, không gửi sứ sang nữa. Tình hình trở nên nghiêm trọng
khiến Lý Thánh Tông phải quyết định thân chinh đi đánh Chiêm
Thành. Thường Kiệt được vua cử làm đại tướng, giao cho thống
lĩnh đoàn quân tiên phong. Em trai ông là Thường Hiến cũng được
cử làm tướng theo ông đi chinh phạt.

19

Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069), vua Thánh Tông ra lệnh xuất
quân. Đại quân Lý dùng thuyền, theo đường biển tiến về phương
nam. Chế Củ sai thủy quân chặn quân ta ở cửa sông Nhật Lệ (nay
thuộc Quảng Bình). Trận thủy chiến diễn ra nhanh chóng. Đội
thuyền chiến của Chiêm Thành bị đánh tan tác.

20

Sau khi tiêu diệt thủy quân Chiêm Thành, đại quân Lý thẳng
đường tiến đến Phật Thệ (về sau gọi là Đồ Bàn hay Chà Bàn),
kinh đô nước Chiêm Thành. Kinh đô Phật Thệ nằm giữa một
vùng đồng bằng phì nhiêu với núi non bao bọc ba phía. Ở phía
đông có những nhánh sông thông với đầm Nước Mặn (tức vịnh
Quy Nhơn ngày nay), vì vậy chiến thuyền quân Đại Việt từ biển
đi vào rất thuận lợi.

21

22

Sau hơn 20 ngày lênh đênh trên biển, quân Đại Việt đổ bộ
vào cửa Thị Nại (đầm Nước Mặn). Hai anh em Thường Kiệt và
Thường Hiến dẫn đầu đoàn quân tiên phong đánh vào kinh đô
Chiêm Thành. Tướng Chiêm Thành là Bố Bì Đà La dàn quân bên
bờ sông Tu Mao(*), phía nam Phật Thệ, để chặn quân Việt. Thường
Kiệt chia quân làm hai cánh cùng tấn công vào quân Chiêm. Dưới
tài cầm quân của Thường Kiệt, chẳng mấy chốc, Bố Bì Đà La bị
giết, quân Chiêm tan rã.
* Tức sông Tân An chảy ra cửa Quy Nhơn.

23

Chế Củ nghe tin quân mình đại bại đang đêm vội vàng cùng
hậu cung bỏ kinh thành chạy trốn. Vì thế, khi quân Đại Việt tiến
đến gần Phật Thệ, quân lính và dân chúng mở cửa thành kéo nhau
ra hàng. Lý Thánh Tông dẫn quân vào thành, ra lệnh không được
chém giết; sau đó, đặt người cai quản và dụ an dân chúng.
24

Chế Củ chạy về phía nam tập họp lại lực lượng và tiếp
tục chống trả. Như vậy, việc chinh phục Chiêm Thành, quy
phục được Chế Củ còn mất nhiều thời gian nữa. Điều này
khiến Lý Thánh Tông chẳng an tâm. Nhà vua đã rời kinh
đô Thăng Long khá lâu rồi. Tuy việc triều chính đã giao
cho Ỷ Lan Nguyên phi tài trí hơn người, nhưng ngài vẫn
lo lắng không biết nàng có thể quán xuyến được mọi việc
không. Cai trị một quốc gia chẳng phải là việc giản đơn.

25

Suy đi tính lại, cuối cùng Lý Thánh Tông quyết
định rút quân. Thuyền về đến châu Cư Liên, đâu
đâu cũng nghe dân chúng khen Nguyên phi làm
giám quốc trị nước rất tài, giải quyết thông suốt
mọi việc, khắp nơi đều yên ổn. Thánh Tông thấy
an tâm nhưng lại tự thẹn vì mình là đấng nam nhi
cầm quân đi đánh Chiêm Thành mà chưa chiến
thắng hoàn toàn đã lui về. Nhà vua liền cho quay
thuyền trở lại, quyết bắt bằng được vua Chiêm.

26

Vâng mệnh nhà vua, Thường Kiệt đem quân truy kích Chế Củ.
Đường hành quân về phương nam đầy gian nan, hiểm trở. Ông
cùng đoàn quân tiên phong của mình vượt bao đèo cao, sông rộng,
băng qua những cánh rừng rậm, những vùng đất cát khô cằn. Cuối
cùng, thu phục được cả những vùng phía nam của Chiêm Thành.

27

28

Chế Củ lùi mãi, lùi mãi đến tận vùng Panduranga (tức Phan
Rang, Phan Thiết ngày nay) và tới sát biên giới Chân Lạp. Thế
nhưng Chân Lạp lâu nay vốn là nước thù địch với Chiêm Thành,
vua Chiêm không dám trốn sang đấy. Cùng đường, Chế Củ đành
phải ra hàng quân Đại Việt và bị Thường Kiệt giải về cho Lý
Thánh Tông.

29

Lý Thánh Tông hết sức vui mừng, ngài cho mở tiệc ăn mừng
chiến thắng và sau đó đưa vua Chiêm về Thăng Long. Chế Củ xin
dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được tha về.
30

Hát dặm Quyển Sơn trong ngày hội đền Trúc (thờ Lý Thường Kiệt)
ở Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam.
Ảnh: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nam

Tương truyền trên đường trở về kinh đô Thăng Long, Thường
Kiệt cùng đoàn quân chiến thắng dừng chân nghỉ ngơi ở Quyển
Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ngày nay). Nhân
dân địa phương rất vui mừng, cùng nhau tổ chức khao quân ăn
mừng chiến thắng. Trong cuộc vui, các thiếu nữ miệng hát, tay
múa quạt, còn chân thì dậm theo nhịp điệu của lời ca. Cho đến
nay, người dân Quyển Sơn hàng năm vẫn tổ chức lễ hội với trò vui
múa hát như vậy để ghi nhớ chiến công của vị tướng giỏi triều Lý.
31

Chiến thắng trở về, Lý Thánh Tông phong
cho Thường Kiệt làm Phụ quốc Thái phó, tước
Khai Quốc công và nhận ông làm con nuôi,
vì thế ông mang họ Lý, tức Lý Thường Kiệt.
Ngoài ra, ông còn được Lý Thánh Tông giao
cho trọng trách tổ chức, trông coi việc quân
nơi vùng đất mới được vua Chiêm dâng. Chẳng
bao lâu sau, vua trao cho ông chức Thái úy,
chức vụ quan trọng thứ hai trong triều sau Thái
sư Lý Đạo Thành.

32

Tháng giêng năm Nhâm Tý (1072), vua Lý Thánh Tông băng
hà. Thái tử Càn Đức lên nối ngôi tức Lý Nhân Tông. Nhân Tông
chỉ mới 7 tuổi nên cần có người giúp vua trị nước. Thái sư Lý
Đạo Thành vốn là một nhà nho, tuân thủ những quyết định của
triều đình nên cứ theo lệ cũ, mời Thái hậu Thượng Dương làm
nhiếp chính.

33

Nhưng Thái úy Lý Thường Kiệt lại lo nghĩ nhiều đến sự hưng
vong của triều Lý nên ủng hộ Nguyên phi Ỷ Lan vì ông hiểu rõ
tài trị nước của bà. Với sự phò trợ của Lý Thường Kiệt, Ỷ Lan
lên nắm quyền nhiếp chính bên cạnh vị vua trẻ thay cho Thượng
Dương. Lý Thường Kiệt được phong làm Đôn quốc Thái úy, Đại
Tướng quân, Đại Tư đồ và ban cho tước hiệu Thượng Phụ công.
Ông nắm tất cả quyền bính cả văn lẫn võ trong triều. Tuy đã ngoài
năm mươi tuổi, ông vẫn cố đem hết tâm sức để chu toàn mọi việc
trong ngoài.

34

Mặc dù công việc triều chính bận bịu, Lý Thường Kiệt vẫn
thường theo dõi tình hình ở nước láng giềng to lớn phía bắc. Ông
hiểu rất rõ triều đình nhà Tống đang phải đối phó với vô số khó
khăn chồng chất. Bên ngoài, nước Liêu, nước Hạ đánh phá; vua
Tống phải cống vàng bạc, của cải cho họ để được yên thân. Bên
trong, các quan lại ra sức đục khoét; nên mặc dù dân chúng phải
chịu sưu cao thuế nặng nhưng công quỹ vẫn trống rỗng.

35

Gần đây, vua Tống cử Vương An Thạch làm Tể tướng. An
Thạch đưa ra Tân pháp nhằm thu thêm thuế để bù vào khoản thiếu
của công khố nên bị nhiều người chống đối. Bí thế, y xui vua
Tống xâm lăng Đại Việt nhằm tìm chiến thắng để lấy lại uy tín.
36

Theo lệnh của Vương An Thạch, các vùng ở phía nam Trung
Quốc ráo riết chuẩn bị binh mã. Để có nhiều lương thực cho quân
lính và ngựa chiến, nhà Tống bắt dân chúng ở đây phải nộp thuế
bằng lúa gạo và cỏ khô. Vì thế, không bao lâu, nhà Tống đã có
một lượng lớn lương thảo chất đầy các kho ở thành Ung châu.
37

Ở hai cửa biển Khâm châu và
Liêm châu, nhà Tống còn bắt các
thuyền buôn, thuyền chuyên chở
của dân chúng phải tập họp lại
theo đội ngũ và phải luyện tập
thủy chiến. Đồng thời, triều đình
nhà Tống còn sai đóng thêm nhiều
thuyền chiến và tuyển thêm nhiều
quân lính ngày đêm luyện tập.

38

Vua Tống còn sai người đem vàng bạc, của cải đến mua chuộc
các tù trưởng dân tộc ít người ở vùng biên giới Đại Việt. Và rồi,
quan lại nhà Tống dường như sợ ta biết việc chuẩn bị này nên
đã ra lệnh cấm người Đại Việt sang Trung Quốc buôn bán... Qua
những tin cấp báo ấy, Lý Thường Kiệt hiểu ngay rằng triều đình
nhà Tống đang ráo riết chuẩn bị xâm lăng nước ta.
39

Lúc này, triều đình nhà Lý đang có sự chia rẽ sau vụ chọn
người nhiếp chính, Lý Đạo Thành đang bị biếm vào tận Nghệ
An. Tình hình đó khiến Lý Thường Kiệt hết sức lo lắng. Muốn
chống được quân xâm lăng, trước hết phải tạo sự đoàn kết trong
nước; mà như vậy, việc xóa tan sự bất hòa trước đây là điều cần
phải làm ngay. Nghĩ vậy, ông vội vào triều yết kiến Linh Nhân
Thái phi Ỷ Lan để bàn bạc.
40

Bản thân Lý Thường Kiệt làm gương cho mọi người về tinh
thần hòa giải đó. Ông sai người vào Nghệ An rước Lý Đạo Thành
về và tâu xin vua phong cho Lý Đạo Thành làm Thái phó Bình
chương Quân quốc Trọng sự, tức vị Tể tướng thứ hai. Vốn là người
trung thành với triều đình, Lý Đạo Thành lại hết lòng trông nom
việc triều chính. Nhờ đó, Lý Thường Kiệt tập trung sức lực vào
việc tăng cường binh bị.

41

Lý Thường Kiệt ra lệnh cho các quan ở
các địa phương, các làng xã lập sổ ghi tên
thanh niên tuổi từ 18 trở lên (lứa tuổi này
được gọi là hoàng nam) và dựa theo đó để
tuyển quân. Quan địa phương phải đốc thúc
quân lính thường xuyên luyện tập võ nghệ,
tập cho quen trận mạc. Lý Thường Kiệt cũng
cho chọn nhiều thanh niên khỏe mạnh, giỏi
võ nghệ để sung vào 18 vệ cấm binh bảo vệ
kinh thành.

42

Trong khi đó, Lý Thường Kiệt lại nhận được tin cấp báo gởi về
cho biết Vương An Thạch đang âm mưu xúi giục Chiêm Thành
đánh nước ta để lấy lại vùng đất đã nhường cho Đại Việt trước
đây. Hai bên ước hẹn khi nào nhà Tống tiến quân thì Chiêm Thành
cũng đánh vào biên giới phía nam của Đại Việt làm hậu thuẫn.

43

Lý Thường Kiệt lập tức đích thân dẫn quân đi tuần tra và tổ
chức phòng bị biên giới phía nam. Ông cho vẽ bản đồ ba châu Bố
Chính, Ma Linh, Địa Lý. Tại các vị trí hiểm yếu, ông sai đào hào
đắp lũy, xây đồn và đặt quân trú phòng.

44

45

Sau khi củng cố lực lượng và yên tâm về mặt bố phòng, Lý
Thường Kiệt chợt nảy ra một ý định táo bạo: “Không lẽ ta cứ lo
phòng bị và chờ quân giặc chuẩn bị xong xuôi kéo đến tàn phá
đất nước rồi mới đánh trả. Làm như thế sao bằng ta đem quân
ra trước để chặn mũi nhọn của giặc, phá thế mạnh của chúng”.
Ông thận trọng cân nhắc kỹ mọi điều lợi hại rồi lập tức vào triều
để bàn bạc. Linh Nhân Thái hậu và các trọng thần đều thấy cần
thiết phải tấn công trước để tự vệ.

46

Bản đồ đường tiến công thủy bộ của Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt hoạch định kế sách tiến công và trực tiếp chỉ
huy đại quân. Mục đích cuộc ra quân của ông là tập kích vào các
thành Ung châu, Khâm châu và Liêm châu để phá hủy các kho dự
trữ vũ khí, lương thực mà nhà Tống tích trữ để tiến hành xâm lược
Đại Việt; sau đó rút về phòng thủ đất nước chờ đón đánh quân
giặc kéo sang. Để chắc thắng, Lý Thường Kiệt đã huy động hơn
10 vạn quân chia làm hai cánh thủy, bộ cùng phối hợp tấn công
vào các cứ điểm quan trọng này.
47

Ở cánh quân bộ, Lý Thường Kiệt sử dụng
lực lượng chủ yếu là quân lính các dân tộc ít
người do tù trưởng của họ chỉ huy: Lưu Kỷ
cầm quân vùng Quảng Nguyên, Hoàng Kim
Mãn nắm vùng Môn châu, vùng Lạng châu có
phò mã Thân Cảnh Phúc... Các toán quân này
sẽ chịu sự thống lĩnh chung của tù trưởng - phó
tướng Tông Đản, theo nhiều ngả đánh vào các
trại quân Tống ở dọc con đường từ biên giới
đến Ung châu, sau đó bao vây thành, chờ quân
thủy đến tiếp ứng.

48
 
Gửi ý kiến

Mỗi tuần một cuốn sách hay