13 Kho học liệu số dùng chung của Bộ Giáo dục

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

15 chuyên đề

Chủ đề năm học: 2025-2026:

KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LAI !.********* Với thông điệp: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là điều đáng quý". ```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````

Giới thiệu sách tháng 11

Bài hát: Trang sách mở ra thế giới

Bản tin

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tuần lễ áo dài

Lịch sử VN bằng tranh 22

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:05' 01-04-2025
Dung lượng: 6.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tái bản lần thứ 2

BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

Chiến thắng quân Mông lần thứ nhất / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân
biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
96 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.22).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Trần dynasty, 1225-1400 — Pictorical works.
959.7024 — dc 22
C533

LỜI GIỚI THIỆU
Người xưa vẫn thường bảo rằng: “Cơ trời, vận nước”. Cơ trời
xoay vần, vận nước gặp cơn nguy khốn. Người Mông Cổ - vốn vẫn
bị nhà Tống miệt thị là bọn man di – phút chốc bỗng trở nên hùng
mạnh, nuôi mộng bành trướng, xua quân đi khắp Á – Âu tiến hành
xâm lược. Nước ta tuy nhỏ, nhưng địa thế chiến lược, làm bàn đạp
tấn công nhà Tống, thâu tóm Trung Hoa, nên chẳng thể nằm ngoài sự
láo liên của chúng. Chúng khinh bạc cho rằng ta chỉ là tiểu quốc, chỉ
cần hù dọa rồi lại vỗ về lừa bịp, chiếm được nước ta như trở bàn tay.
Ấy vậy mà chúng chẳng thể ngờ rằng: Nước ta tuy nhỏ, dân thưa
mà lại chẳng thiếu người hào kiệt. Vận nước gặp buổi lâm nguy cũng
là lúc rõ mặt kẻ anh hùng. Dẫu cũng có kẻ bạc nhược, sinh lòng hám
lợi mê danh, nhưng bên bậc minh quân chẳng thiếu bề tôi trung, lại
thao lược việc quân, quên thân vì nước. Chẳng những thế mà, dân –
quân một lòng, chẳng tiếc tấm thân, cùng nhau hướng về vận nước.
Vậy nên, thế giặc mạnh mà ta không nao núng, chẳng mấy chốc mà
đuổi được kẻ thù khuất dạng, sử cũ còn ghi danh.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 22 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng quân Mông lần thứ nhất”
phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Trung Tín thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 22 của bộ Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

3

Từ những bộ lạc riêng rẽ, Thành Cát Tư Hãn đã thống
nhất và dựng nên đế quốc Mông Cổ. Từ đây, mộng bành
trướng của người Mông Cổ bắt đầu được thực hiện. Họ
xua quân đi khắp Á – Âu, khởi đầu bằng việc xâm lược
Tây Hạ ở phía bắc Trung Hoa.
Với dự định dùng Đại Việt làm bàn đạp tiêu diệt Nam
Tống, Mông Cổ đã xua binh xâm lược nước ta. Dẫu cuộc
chiến khởi đầu với sự thất bại của Đại Việt nhưng cuối
cùng Đại Việt đã đánh đuổi được quân xâm lược, bảo vệ
vẹn toàn độc lập chủ quyền của nước ta.

4

Thành Cát Tư Hãn

Vào đầu thế kỷ XIII, nước Đại Việt xảy ra những cuộc nội loạn
cuối nhà Lý, đầu nhà Trần. Trong khi ấy, tại vùng thảo nguyên
thuộc nước Mông Cổ ngày nay, Thiết Mộc Chân (Temujin) đánh
gục các bộ lạc riêng lẻ, thống nhất đất nước, lên làm Đại Hãn tức
Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Đại Hãn là danh xưng của
hoàng đế nước Mông Cổ.
5

Bấy giờ, người Mông Cổ sinh sống theo lối du mục. Đi đến đâu,
họ dựng lều trại đến đấy. Của cải quan trọng của họ là bò, cừu và
quý nhất là ngựa. Quân Mông Cổ rất có tài cưỡi ngựa, bắn cung.
Sức mạnh của quân đội Mông Cổ chủ yếu dựa đoàn kỵ binh (lính
cưỡi ngựa). Có câu truyền tụng về sức mạnh của quân Mông Cổ
như sau: “Hễ nơi nào có vó ngựa quân Mông Cổ đi qua, thì nơi
ấy cỏ không thể nào mọc lên được nữa”.
6

Ngoài ra, quân Mông Cổ còn có chiến thuật đánh trận mãnh
liệt, khi ẩn khi hiện. Khi bắt đầu giao phong, toán kỵ binh ào ạt
xông thẳng vào đối phương. Nếu đối phương không nao núng,
toán kỵ binh ấy tản ra ngay, nhường chỗ cho toán khác tấn công.
Và cứ thế, từng toán liên hoàn áp đảo cho đến khi hạ gục được
họ. Trong trường hợp không hạ được đối phương bằng cách ấy,
quân Mông Cổ xua súc vật vào trận địa hoặc bao vây địch cho
đến khi hết lương thực.
7

Với đoàn quân thiện chiến ấy, Thành Cát Tư Hãn tung hoành
khắp Âu - Á. Các quốc gia ở phía bắc Trung Quốc như Tây Hạ,
Kim, Triều Tiên... và cả miền Trung Á đều không kháng cự được,
trở thành thuộc địa của Mông Cổ. Sau khi Thành Cát Tư Hãn chết,
con là Oa Khoát Đài (Ogodai) lên thay, vẫn tiếp tục con đường
xâm lăng. Đế quốc Mông Cổ được thành lập. Cuộc viễn chinh
tiến về phía Tây, chiếm lấy vùng đất sông Volga và xâm nhập
vào châu Âu. Cả châu Âu rúng động.
8

Năm 1251, cháu nội của Thành Cát Tư
Hãn là Mông Kha (Môngke) lên ngôi Hãn.
Đế quốc Mông Cổ bấy giờ đã rất rộng lớn,
trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho đến tận
bờ Hắc Hải. Nhưng quân Mông Cổ không
dừng ở đấy. Mông Kha có kế hoạch xâm
chiếm hai nước Tống và Đại Lý (thuộc
Trung Quốc hiện nay).

9

Năm 1252, em của Mông Kha là Hốt Tất Liệt (Kublai) cử Ngột
Lương Hợp Thai (Uriyankhadai) đánh lấy nước Đại Lý (là vùng
đất Vân Nam thuộc Trung Quốc hiện nay, phía bắc Đại Việt). Vua
nước Đại Lý thua trận, bị bắt, phải đầu hàng. Sau chiến thắng ấy,
quân Mông Cổ chuẩn bị tấn công nước Tống.

10

Trước khi xuất quân đánh Tống, Mông Kha làm lễ tế cờ trên
bờ sông Karulan rồi chia quân ra làm bốn cánh. Ba cánh quân
có nhiệm vụ vượt sông Trường Giang, đánh từ phía bắc xuống;
trong đó có một cánh do Mông Kha đích thân chỉ huy. Cánh quân
thứ tư do Ngột Lương Hợp Thai dẫn đầu, xuất phát từ Đại Lý,
có nhiệm vụ đánh chiếm Đại Việt để làm bàn đạp đánh vào sau
lưng nước Tống.

11

Để dễ dàng chiếm Đại Việt, Ngột Lương Hợp Thai lệnh cho
một đoàn sứ giả đến Đại Việt chiêu hàng. Đoàn sứ giả nghênh
ngang đến Thăng Long, ra mắt vua Trần Thái Tông và uốn lưỡi
dụ dỗ. Chúng bảo rằng quân Mông Cổ chỉ mượn đường qua Đại
Việt để tiến đánh nước Tống chứ không có ý đồ xâm lấn Đại Việt.
Vua Trần Thái Tông không cần nghe dài dòng, hạ lệnh tống giam
đoàn sứ giả vào ngục.
12

Là người nhìn xa trông rộng, nhà vua dự đoán sẽ có ngày vó
ngựa Mông Cổ xâm lấn Đại Việt, nên đã có chính sách quân sự
rất sáng suốt. Đó là chính sách “ngụ binh ư nông”: Khi trong nước
có cảnh chiến tranh thì triều đình cứ theo hộ khẩu, gọi tất cả trai
tráng vào lính. Vào thời bình, họ được trở về quê làm ruộng. Nhờ
đó, việc tuyển quân rất nhanh chóng nhưng cũng rất kỹ lưỡng, chỉ
chọn những trai tráng khỏe mạnh.
13

Ngoài ra, các thân vương quý tộc cũng có quyền tuyển mộ lính
và lập nên quân đội của riêng mình. Số quân lính này cộng với
quân đội của triều đình tạo thành một lực lượng rất hùng mạnh.
Có sách cho rằng quân số dưới thời này lên đến 200.000 người.
Các tướng lĩnh chỉ huy lại là những người tinh thông võ nghệ. Họ
đều bắt buộc phải học tập chiến thuật ở Giảng võ đường.
14

Giảng võ đường được thành lập vào năm 1253, là lò dạy về nghệ
thuật quân sự. Tại đây, các tướng lĩnh học hỏi binh pháp và tập
dàn quân đánh trận. Nếu tập trận nhỏ thì bố trận ở hồ Lục Thủy
(còn gọi là hồ Thủy Quân, nay là hồ Hoàn Kiếm. Lúc đó hồ Lục
Thủy còn rộng lớn, thông với sông Cái). Nếu tập trận lớn thì dàn
quân ở Đông Bộ Đầu trên sông Cái (tức sông Hồng). Về vũ khí,
quân nhà Trần còn được trang bị hồi hồi pháo (tức máy ném đá)
và hỏa khí (bắn lửa bằng ống đồng).

15

Với lực lượng quân sự như thế, vua Trần Thái Tông vững lòng
nghênh chiến. Vào tháng 9 âm lịch năm Đinh Tị (1257), nhà vua
ra lệnh cho viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn đem quân thủy bộ
lên phòng ngự vùng biên giới, đồng thời xúc tiến việc sắm sửa
vũ khí. Lệnh ban xuống cho toàn dân khẩn trương rèn dao, mài
kiếm, vót tên.

16

Trong khi vua Trần Thái Tông chuẩn bị binh mã thì Ngột Lương
Hợp Thai vẫn đợi tin tức của đoàn sứ giả. Đợi mãi không được,
y áp sát quân đến biên giới phía bắc của Đại Việt, đồng thời liên
tiếp sai hai đoàn sứ giả nữa đến chiêu dụ vua Trần. Nhưng hai
đoàn sau cũng bặt vô âm tín. Ngột Lương Hợp Thai vô cùng tức
giận bèn ra lệnh xuất quân.

17

Cánh quân đi đầu của Mông Cổ tiến dọc theo bờ sông Thao, lấn
sâu vào đất Đại Việt. Còn một cánh do con trai của Ngột Lương
Hợp Thai là A Châu (Aju, có sách gọi là A Truật) đi sau một đoạn
để yểm trợ. Hai cánh quân này vừa tiến vừa thăm dò tình hình
quân Trần để cấp báo cho đại quân ở phía sau.

18

Ngay khi quân giặc vừa rục rịch xuất binh, ở Thăng Long vua
Trần đã nhận được tin cáo cấp từ biên giới báo về. Nhà vua bàn
bạc với các tướng và chọn Bình Lệ Nguyên, một cánh đồng rộng
lớn nằm giữa sông Thao và sông Cà Lồ (nay thuộc Mê Linh, Hà
Nội) để dàn trận. Đây là nơi dòng sông có nhiều rạch cắt ngang
như những chiến hào thiên nhiên rất thuận tiện cho việc ẩn quân
để chống giặc cũng như rút quân khi cần thiết.
19

Vua Trần Thái Tông thân chinh cầm quân chống giặc. Ngài
được một dũng tướng tài ba là Lê Tần giúp sức. Sử sách ghi lại
rằng Lê Tần là người gan dạ, tính tình điềm tĩnh mà lại đa mưu
túc kế. Ông cùng bàn bạc với nhà vua để bày thế trận đồng thời
vẫn không quên hun đúc tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Nhờ thế,
quân tướng trên dưới đều một lòng quyết tâm đánh giặc.

20

Trong lúc gấp rút chuẩn bị, quan
Chưởng ấn (quan giữ các ấn của nhà
vua) đem giấu ấn báu lên trên xà ngang
nóc cung điện Đại Minh và chỉ đem
theo ấn mật dùng trong nội bộ. Nhưng
nửa đường, chiếc ấn mật bị rơi mất. Để
chỉ huy việc quân, vua đành phải sai thợ
khắc một chiếc ấn bằng gỗ(*) dùng tạm.
* Ấn là tượng trưng quyền uy của vua, thường
được đúc bằng vàng ròng hay đồng đỏ.

21

Dù mất ấn nhưng việc chuyển quân vẫn tiến hành khẩn trương.
Thuyền binh của Đại Việt chở quân, voi, ngựa đến Bình Lệ Nguyên
(thuộc Vĩnh Phúc ngày nay). Quân lính và voi, ngựa đổ bộ lên cánh
đồng, dàn trận san sát. Thuyền được đưa tránh xuống bến Lãnh Mỹ
ở khúc sông phía dưới (nay là xóm Bến, làng Thịnh Kỷ, Mê Linh,
Hà Nội), có nhiệm vụ đón bộ binh nếu thế trận trên bờ thất lợi.

22

A Châu cho quân đi dò thám, thấy tình hình chuẩn bị ứng chiến
của quân đội nhà Trần bèn thông báo cho cha. Được tin báo, vào
ngày 12 tháng chạp âm lịch (17-1-1258), Ngột Lương Hợp Thai
thân hành đem đại binh xâm nhập vào đất Đại Việt và gặp hai
cánh đi trước ở vào khoảng Việt Trì ngày nay. Hợp quân xong,
đại quân Mông Cổ tiến đến nơi quân Đại Việt chốt giữ và dàn trận
bên kia bờ sông để chuẩn bị điều binh tấn công.

23

Tướng tiên phong của Mông Cổ là Triệu Triệt Đô (Cacakdu,
có sách phiên âm là Triệt Triệt Đô) được giao nhiệm vụ dẫn 1000
quân đi trước, vượt qua sông nhưng không đánh ngay mà chờ cánh
quân tập hậu đánh vào sau lưng quân Đại Việt mới xông ra cướp
thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần. Việc vượt sông
tập kích phía sau do cánh quân của A Châu đảm nhiệm, phối hợp
với đại quân do Ngột Lương Hợp Thai đích thân chỉ huy tấn công
chính diện vào quân Trần.
24

25

Trước sức mạnh hung hãn của quân Mông Cổ thiện chiến, vua
Trần Thái Tông không nề hà hiểm nguy, tự mình dẫn quân tướng
cự địch. Nhờ địa hình chiến trường phức tạp, nên lúc đầu quân
Trần chiếm lợi thế, hạ gục nhiều tên lính Mông Cổ.

26

27

Nhưng đại quân Mông Cổ lại gồm toàn những tay thiện xạ
bách phát bách trúng và giàu kinh nghiệm trận mạc. Không tấn
công được người, chúng dùng cung tên bắn loạn xạ vào voi ngựa
của quân Đại Việt khiến những con vật này hoảng sợ, lồng lên.
Cuối cùng, thế trận bị vỡ, quân Đại Việt phải rút lui theo đường
sông như đã định.

28

Trong khi đó, Triệu Triệt Đô đã kéo được quân đến gần bến
giấu thuyền của quân Đại Việt, cố gắng thực hiện âm mưu cướp
thuyền để hòng bắt sống vua Trần. Nhưng toán quân bảo vệ thuyền
tuy lực lượng ít vẫn liều chết xông ra ứng chiến, chặn ngang quân
của Triệu Triệt Đô. Nhờ thế, vua Trần thoát được lên thuyền.

29

30

Kỵ binh Mông Cổ truy kích, bám theo thuyền của quân Trần
đang xuôi dòng. Chúng vừa phóng ngựa dọc theo bờ, vừa ra sức
bắn tên như mưa hòng giết chết vua Trần Thái Tông. Lê Tần nhanh
trí, vớ tấm ván thuyền che cho nhà vua. Đến khi chiến thuyền vượt
ra khỏi tầm bắn, tấm ván chi chít tên cắm như lông nhím.

31

32

Lo lắng vì không hoàn
thành nhiệm vụ được giao,
quân của Triệu Triệt Đô cố
truy đuổi mãi. Nhưng thuyền
vua nhờ xuôi dòng và nhờ
quân sĩ hết lòng chèo chống
nên đi rất nhanh, chúng đành
phải quay về. Thấy không bắt
được vua Trần, Ngột Lương
Hợp Thai tức giận cho gọi
tướng tiên phong lên hỏi tội.
Triệu Triệt Đô hoảng sợ, uống
thuốc độc tự vẫn.
33

Trong khi ấy, tại bản doanh nhà Trần, một số tướng muốn điều
động hết lực lượng từ Thăng Long lên để đánh một trận sống mái
với giặc. Nhưng Lê Tần, vốn là người trông xa biết rộng, ra sức
can ngăn. Ông tâu cùng nhà vua: “Nếu bây giờ mà ta dốc hết lực
lượng ra cố đánh, thì chẳng khác nào một con bạc vét hết đồng
tiền cuối cùng quăng vào chiếu bạc, tai họa cháy túi là tất nhiên”.
34

Nghe lời khuyên phải,
nhà vua đem quân trở về
để bảo toàn lực lượng
và tính kế lâu dài. Đến
cầu Phù Lỗ (trên sông
Cà Lồ, cách cầu Phù Lỗ
ngày nay một đoạn), vua
cho quân phá cầu và lập
phòng tuyến ở bờ nam
để kìm chân quân Mông
Cổ cho đại quân rút lui
an toàn. Việc vừa xong
thì đạo kỵ binh giặc
cũng vừa ập đến.

35

Tuy không có cầu cũng không có thuyền bè, nhưng vốn là
những tên thiện chiến, giàu kinh nghiệm, kỵ binh Mông Cổ vẫn
tìm được cách qua sông. Chúng cho một toán đi ven bờ sông dò
đường. Toán này dùng cung tên bắn xuống nước. Nếu chỗ nào
cạn thì mũi tên sẽ cắm xuống đất mà không nổi lên. Và như thế,
chúng cho ngựa men theo những chỗ không có tên nổi, dẫn đoàn
kỵ binh qua sông, tiếp tục truy kích quân Đại Việt.

36

Phú Lương hầu, một tướng trong dòng họ nhà Trần, đứng ra
chặn địch. Ông hy sinh nhưng quân Đại Việt đã rút lui an toàn.
Đại quân về đóng tại bến Đông Bộ Đầu ở phía đông thành Thăng
Long(*), sau đó nhà vua cho quân rút về đóng ở sông Thiên Mạc(**),
cách Thăng Long khoảng 20 cây số về phía nam.
* Ở dốc Hàng Than, phía trên cầu Long Biên, Hà Nội.
** Ở Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay.

37

Dân chúng cũng được huy động rút khỏi
Thăng Long. Giữa lúc tình hình khẩn cấp, bà
Linh Từ - vợ của Thái sư Trần Thủ Độ - đã đứng
ra quán xuyến cho hoàng gia cùng vợ con các
tướng rút theo được bình yên. Bà còn lo toan mọi
việc hậu cần: từ gạo, muối, chăn, mền và ngay
cả vũ khí nhẹ cũng được đem theo hết sức chu
đáo. Nhờ đó, vua và các tướng yên tâm chuẩn
bị chống giặc.

38

Quân Mông Cổ kéo vào thành Thăng
Long, hí hửng nghĩ rằng đã làm chủ được một
kinh đô giàu có đầy của cải. Nhưng càng tiến
vào, chúng càng thất vọng. Nhân dân hưởng
ứng triều đình, bỏ thành mà đi. Thăng Long
chỉ còn là tòa thành vắng lặng, vườn không
nhà trống. Quân Mông Cổ không thể cướp
bóc được gì nhiều.

39

Sực nhớ các đoàn sứ giả đã phái đi trước đây, Ngột Lương
Hợp Thai cho quân lùng sục mãi mới tìm thấy chúng trong ngục
thất. Tất cả đều bị trói nằm lăn lóc. Có một tên sợ quá đã chết.
Ngột Lương Hợp Thai tức lồng lên, cho người đi cướp bóc khắp
nơi để trả thù.
40

Trong khi ấy, vua Trần Thái Tông tìm mọi cách đẩy lui quân
xâm lăng. Nhà vua đi thuyền đến gặp người em ruột tên là Trần
Nhật Hạo để vấn kế. Trước thế giặc quá lớn, Trần Nhật Hạo khiếp
sợ đến nỗi không nói được mà cũng không đứng dậy được. Ông
ta run run lấy ngón tay chấm xuống nước rồi viết vào mạn thuyền
hai chữ “nhập Tống”, ý khuyên vua nên chạy qua Trung Quốc để
dựa vào nước Tống.

41

Ngao ngán trước tinh thần bạc nhược của người em, vua Trần
Thái Tông quay thuyền đi đến gặp Thái sư Trần Thủ Độ. Trái
hẳn với Trần Nhật Hạo, Trần Thủ Độ khẳng khái tâu: “Đầu thần
chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác”. Nói đoạn, ông cùng
nhà vua bàn định kế hoạch đánh giặc. Việc trước tiên là lo lương
thảo, việc thứ hai là lo binh khí.

42

Về lương thảo thì nhà vua không cần bận tâm vì toàn dân đoàn
kết góp gạo nuôi quân. Còn binh khí thì bà Linh Từ lại một lần
nữa tỏ ra rất năng nổ. Bà vận động dân chúng thu nhặt những binh
khí bị rơi vãi khi rút lui, đồng thời khẩn trương rèn giáo mác, vót
tên góp thêm cho quân đội. Bà còn thân hành đi gom góp vũ khí
ở các nhà giàu có. Nhờ quân dân chung tay góp sức, chẳng mấy
chốc, quân Đại Việt đã lấy lại sức mạnh.

43

Trong khi đó, tình trạng của quân Mông Cổ thì lại quá tồi tệ.
Cảnh vườn không nhà trống ở Thăng Long làm cho chúng khổ
sở. Lương thực mang theo đã cạn mà lại không cướp bóc được gì
nhiều nên chúng thường xuyên bị đói. Chúng chỉ nghĩ đến việc
kiếm cái ăn để lấp vào dạ dày đang trống rỗng. Ngày Tết đầu năm
đã cận kề mà chẳng được rượu chè đình đám, chúng không còn
tinh thần chiến đấu nữa.

44

Thấy thời cơ đã đến, vào ngày 24 tháng chạp (29-1-1258), vua
Trần Thái Tông ra lệnh xuất quân. Ngài cùng Thái tử Hoảng (sau
này là vua Trần Thánh Tông) ngự trên lâu thuyền, chỉ huy đoàn
thủy quân từ Thiên Mạc ngược dòng sông Hồng rồi ào ạt tiến về
Thăng Long.

45

46

Đoàn thủy quân đối trận với quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu.
Việc xáp chiến chỉ xảy ra chớp nhoáng. Quân ta khí thế đang
hăng, càng đánh càng thắng. Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ đã
phải tháo chạy.

47

Chạy đến châu(*) Quy Hóa (tương đương
với miền Yên Bái - Lào Cai hiện nay), giặc
tưởng rằng đã thoát thân. Nào ngờ chủ trại
là Hà Bổng đã mai phục sẵn, cho dân binh
xông ra đánh, đoạt lại những của cải mà
chúng đã cướp bóc được. Quân Mông Cổ
đại bại, cố chạy thoát về Vân Nam. Chúng
đói và mất hết ý chí, lại khiếp sợ đến nỗi
không còn sức cướp bóc ở dọc đường. Vì
thế dân chế diễu, gọi chúng là “giặc Phật”.
* Nơi nào xa xôi hay miền núi thì gọi là châu.
Quan cai trị ở đấy gọi là chủ trại.

48
 
Gửi ý kiến

Mỗi tuần một cuốn sách hay