Chủ đề năm học: 2025-2026:
```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````
Giới thiệu sách tháng 11
Bài hát: Trang sách mở ra thế giới
Trang sách mở ra thế giới của thủy
Bản tin
Tuần lễ áo dài
Lịch sử VN bằng tranh 23

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:05' 01-04-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:05' 01-04-2025
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
Tái bản lần thứ tư
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai / Trần Bạch Đằng ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.23).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Trần dynasty, 1225-1400 — Pictorial works.
959.7024 — dc 22
C533
Lời giới thiệu
Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần
thứ nhất, Nguyên Mông lại nuôi dã tâm bành trướng, thâu
tóm Đại Việt. Bấy giờ, từ một dân tộc thiểu số, Nguyên
Mông đã tiêu diệt nhà Tống, vươn lên thành một đế quốc
hùng mạnh, trải rộng từ Á sang Âu.
Nhận biết được dã tâm ấy, nhà Trần đã lợi dụng lúc
hòa hoãn, Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo đã gắng công
điều luyện binh mã, có sự chủ động trong việc đối phó
với kẻ thù. Với lòng yêu nước, đoàn kết quyết tâm của
quân và dân nhà Trần, một lần nữa, Đại Việt đã đẩy lùi
cuộc xâm lược của vó ngựa Nguyên Mông đã gây sóng
gió trên toàn cầu lúc bấy giờ.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 23
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng giặc
Nguyên Mông lần thứ hai” phần lời do Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể
hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 23 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
Nhà xuất bản Trẻ
3
Cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai
của Đại Việt kéo dài trong khoảng bốn tháng, từ cuối tháng
chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng tư năm Ất Dậu (khoảng
từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1285).
Dưới sự chỉ huy tài tình của vua quan nhà Trần bấy giờ
cùng với tinh thần đoàn kết toàn dân, Đại Việt đã một lần
nữa đánh tan kẻ thù xâm lược, giữ yên bờ cõi đất nước.
4
Sau thất bại năm 1258, nhà Nguyên luôn luôn sách nhiễu, chờ
cơ hội để xâm chiếm Đại Việt. Chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt liên
tiếp cho đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành sang chầu, đồng
thời bắt cống nộp hết thứ này đến thứ khác. Trước những đòi hỏi
ngang ngược ấy, vua tôi nhà Trần vừa tỏ ra kiên quyết nhưng cũng
cố nhẫn nhịn để tránh nạn binh đao. Năm 1280, nhà Nguyên lại
sai Sài Thung sang Đại Việt để kiếm cớ gây hấn.
5
Sài Thung là một tên kiêu căng. Vào đến Thăng Long, hắn hợm
mình là người của nhà Nguyên, nghênh ngang cưỡi ngựa đi thẳng
vào tận cung điện. Quân sĩ cản lại, bị hắn lấy roi ngựa đánh chảy
máu đầu. Hắn được đưa đến ở tại điện Tập Hiền. Vào chỗ nghỉ,
hắn nằm lỳ không chịu tiếp ai. Ngay cả tướng nhà Trần là Trần
Quang Khải, chú ruột vua Nhân Tông, thay mặt nhà vua đến tiếp
kiến, hắn cũng không thèm ngồi dậy.
6
Trần Hưng Đạo muốn dò biết ý đồ của Sài
Thung, bèn cắt tóc, mặc áo vải, giả dạng một
nhà sư đến thăm. Thấy nhà sư, Sài Thung sai
pha trà mời uống và tiếp chuyện. Nhưng khi
nhận ra Trần Hưng Đạo, hắn đã ngầm lệnh
cho thuộc hạ vờ lỡ tay, chọc mũi tên vào đầu
ông đến chảy máu. Vậy mà Trần Hưng Đạo
vẫn không đổi sắc mặt. Sài Thung có ý khâm
phục, nên khi ông ra về, hắn đứng dậy tiễn.
7
Sau một thời
gian hống hách tại
Thăng Long, hạch sách đe
dọa đủ điều, Sài Thung quay về
nước. Hiểu rõ dã tâm của nhà Nguyên và để quan hệ đỡ căng
thẳng, vua Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái dẫn đầu đoàn
sứ bộ sang chầu thay mình. Vào đến đất Nguyên, Trần Di Ái bị
Hốt Tất Liệt chiêu dụ, chấp nhận làm tay sai nên được phong là
An Nam Quốc vương tức là vua nước Đại Việt. Hắn theo viên
tướng của nhà Nguyên là Sài Thung dẫn 1.000 quân về nước với
ý đồ lên làm vua thay Trần Nhân Tông.
8
Đoàn của Trần Di Ái và Sài Thung đến gần biên giới thì vua
Trần Nhân Tông đã biết tin. Nhà vua cho quân đón sẵn ở ải Nam
Quan. Vừa thấy quân Trần, Di Ái sợ quá, định bỏ trốn nhưng không
thoát. Hắn bị bắt, bị lột hết chức tước và sung xuống làm lính. Còn
Sài Thung thì bị tên bắn chột một mắt, phải quay về. Ý đồ dựa
vào Di Ái để cai trị Đại Việt của nhà Nguyên tan thành mây khói.
9
Đầu năm 1283, với âm mưu tạo hai gọng kìm để dễ bề xâm lấn
Đại Việt, chúa Nguyên sai một đạo thủy quân do Toa Đô(*) cầm
đầu, vượt biển tấn công Chiêm Thành, hy vọng thôn tính nước
này để làm bàn đạp đánh vào phía nam Đại Việt, phối hợp với
đại quân của chúng kéo từ Trung Quốc xuống. Nhưng cuộc xâm
lăng này gặp thất bại trước sự chiến đấu kiên cường của người
Chiêm Thành. Tuy vậy, Toa Đô vẫn được lệnh đem quân đóng ở
biển phía bắc của Chiêm Thành để chờ.
* tên Mông Cổ là Sogetu.
10
Năm sau, để chuẩn bị đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt phong cho
con là Thái tử Thoát Hoan(*) tước hiệu Trấn Nam vương, có nghĩa
là Vua trấn giữ phương Nam. Lại cho những tên tướng dày kinh
nghiệm trận mạc, đã từng đánh thắng nhà Tống như Lý Hằng, A
Lý đi theo trợ giúp Thoát Hoan. Chúng cho thu gom một số lương
thảo rất lớn và bắt dân Trung Quốc phải làm sai dịch vận chuyển
theo đoàn quân. Nhiều người không chịu được, đã tìm cách bỏ trốn.
* tên Mông Cổ là Toghan.
11
Tin tức về việc chuẩn bị của quân Nguyên được quân thám mã
liên tục cấp báo về triều. Vua tôi nhà Trần không hề bị bất ngờ.
Ngay từ cuối năm Nhâm Ngọ (1282), để chuẩn bị cho Toa Đô đi
đánh Chiêm Thành, chúa Nguyên đã sai người sang đòi Đại Việt
phải cho mượn đường và giúp lương thực. Biết rõ âm mưu của
chúng, vua Trần đã triệu tập các vương hầu, quan lại để nghị bàn
kế sách chống giặc. Đó là hội nghị nổi tiếng ở Bình Than (ở Lục
Đầu, Chí Linh, Hải Dương nơi gặp nhau của 6 con sông cùng đổ
ra biển, cũng là nơi hội tụ của hai con đường thủy bộ chính từ
Trung Quốc sang). Nhà vua chọn địa điểm này vì khi ấy sứ nhà
Nguyên vẫn còn ở Thăng Long.
12
Đây là hội nghị rất quan trọng và
cần thiết để Thượng hoàng cùng vua
và các quan thảo luận và thống nhất
quyết tâm kháng chiến bảo vệ đất
nước. Hội nghị đang họp thì có ông
Trần Khánh Dư (vốn là tướng nhưng
phạm tội, phải về quê bán than; nay
nghe tin, ông tìm đến, được nhà vua
tha tội, phục hồi chức tước và cho
cùng ngồi nghị sự.
13
Lúc này hội nghị đang sôi nổi bàn đến chiến lược
đối với quân Nguyên. Một số kẻ cho rằng nên để quân
Nguyên mượn đường đi đánh Chiêm Thành, số lại bàn
nên cống nạp hậu hĩnh cho chúng để xin hoãn binh.
Nhưng Trần Hưng Đạo cùng các tướng cương quyết
xin đem quân đi trấn giữ các nơi hiểm yếu để sẵn sàng
chống giặc. Trần Khánh Dư cũng tán đồng ý ấy nên nhà
vua rất hài lòng, phong cho ông làm Phó Đô tướng quân,
giữ trọng trách bảo vệ cửa khẩu Vân Đồn.
14
Trong hội nghị Bình Than, có một dũng tướng lại không được
dự họp. Đó là Trần Quốc Toản, dù được theo tới Bình Than, nhưng
vì mới 16 tuổi, nên phải đứng ngoài. Trần Quốc Toản lấy làm uất
ức, tay đương cầm quả cam bóp bẹp ra lúc nào không hay. Khi
tan hội, các vương hầu ra về sắm sửa binh thuyền để cự địch. Trần
Quốc Toản cũng về tụ họp thân thuộc của mình, lập nên một đạo
quân gồm hơn ngàn người với lá cờ đề sáu chữ “Phá cường địch,
báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua) để tham gia đánh giặc.
15
Sau đó, nhà vua phong cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
làm Quốc công Tiết chế, nhận trọng trách thống lĩnh toàn quân;
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư,
cùng hợp lực với Trần Quốc Tuấn chỉ huy ba quân chống xâm
lăng. Trần Quang Khải (1241-1294) là con thứ ba của vua Thái
Tông, em cùng mẹ với Thượng hoàng Thánh Tông và là chú ruột
của vua Nhân Tông. Ông là người thông minh, học rộng, văn võ
toàn tài lại nổi tiếng là người thanh liêm, lâu nay vẫn được triều
đình nể trọng.
16
Trước đây, Trần Quang Khải
và Trần Quốc Tuấn không hòa
hợp với nhau do hiềm khích
giữa hai gia đình(*). Nhưng đến
lúc này, cả hai ông đều đặt
quyền lợi quốc gia lên trên,
đoàn kết lại với nhau. Sử cũ
chép rằng, một lần Trần Quốc
Tuấn từ Vạn Kiếp về kinh đô,
Trần Quang Khải đã xuống
thuyền của ông và hai người
cùng chơi cờ, uống rượu với
nhau suốt cả ngày.
* Xem Thành lập nhà Trần.
17
Biết trời lạnh, Quang Khải ngại tắm, Quốc Tuấn bèn sai nấu
nước thơm và tự tay tắm gội cho Quang Khải. Ông đùa bảo:
“-Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng đùa
lại: “- Hôm nay được ngài Quốc công tắm hầu”. Hai bên cư xử
với nhau thân tình chứng tỏ trong lòng không còn niềm nghi kỵ
nào. Điều đó khiến tướng sĩ thêm tin tưởng ở triều đình và càng
đoàn kết một lòng.
18
Để khích lệ mọi người đứng lên chiến đấu vì đại nghĩa, Trần
Hưng Đạo viết và truyền bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng. Trong hịch
có đoạn tha thiết: “... Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt
lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi
ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng...”
19
Hịch truyền ra, tướng sĩ
được khích lệ, ai nấy một lòng
diệt giặc. Họ lấy mực xâm lên
tay hai chữ “sát Thát” (giết quân
Nguyên) để tỏ rõ quyết tâm của mình.
Trần Hưng Đạo phân công các tướng
đi trấn giữ các nơi, riêng ông thống
lĩnh đại quân đóng ở cửa Nội Bàng.
Do đã sớm phòng bị chu đáo từ trước
như thế nên vua tôi nhà Trần hoàn toàn
chủ động trong việc chuẩn bị kháng
chiến.
20
Lúc này, 50 vạn quân Nguyên chia làm hai cánh, một cánh
theo đường Vân Nam đã áp sát biên giới phía tây Đại Việt. Còn
đại quân Nguyên do Thoát Hoan thống lĩnh, rầm rầm rộ rộ tiến
đến gần biên giới Lạng Sơn. Thoát Hoan lại giở trò cũ, cho người
đưa thư sang vua Trần nói rằng y không có ý đánh Đại Việt, chỉ
mượn đường đi đánh Chiêm Thành, hy vọng quân dân nhà Trần
tưởng thật, không phòng bị để dễ dàng đánh chiếm.
21
Chẳng lạ gì dã tâm của giặc,
vua Trần Nhân Tông sai người
mang thư trả lời: “Từ nước tôi
đến Chiêm Thành, cả đường
thủy đường bộ thảy đều không
tiện”. Thấy không khuất phục
được vua Trần, Thoát Hoan lại sai Tả
Thừa tướng là A Lý sang đưa thư cho Trần
Hưng Đạo hăm dọa sẽ phá tan bờ cõi Đại Việt nếu không cho
y mượn đường. Trần Hưng Đạo không thèm trả lời, cũng không
thèm giữ lễ, cho người đuổi thẳng A Lý.
22
Trước tình thế vô cùng khẩn cấp,
để quyết tâm của triều đình xuống đến
dân chúng và cũng để xem lòng dân
trước nạn nước thế nào, Thượng hoàng
Thánh Tông cho triệu mời các bô lão
về hội nghị ở điện Diên Hồng. Vào đầu
tháng 2 năm 1285, theo lời kêu gọi của
nhà vua, từ khắp mọi miền đất nước,
các bô lão đã không quản đường xa
cách trở, khí trời lạnh lẽo, nô nức kéo
về kinh thành Thăng Long. Thượng
hoàng và nhà vua cho đặt tiệc
ngay tại thềm điện để
đón tiếp.
23
24
Đứng trước các vị trưởng lão râu tóc bạc phơ, Thượng hoàng
hỏi: “Nên hòa hay nên chiến?”. Lập tức cả ngàn tiếng nói cùng hòa
làm một trong khí thế bừng bừng, tất cả hô vang: “Quyết chiến,
quyết chiến”. Lòng can đảm và ý chí quật cường của các bô lão
làm nức lòng triều đình cùng dân chúng. Hội nghị Diên Hồng mãi
mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần
đoàn kết chống kẻ thù xâm lược của nhân dân ta.
25
Sau đó, vua Trần cho yết bảng kêu gọi nhân dân hợp lực với
triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài
đến, phải liều chết mà đánh; nếu sức địch không nổi thì cho lẩn
trốn vào rừng núi, không được đầu hàng”. Cả nước bừng bừng khí
thế quyết tâm đánh giặc. Mọi người ai cũng đóng góp theo hoàn
cảnh của mình. Nhà giàu có khá giả quyên góp tiền bạc, lương
thực để nuôi quân; người bình dân thì góp công xay lúa giã gạo,
rèn đúc khí giới.
26
Tháng chạp năm Giáp Thân (1284), đại quân
Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy chia thành 6 mũi
tấn công vào các ải biên giới và bao vây quân
Trần chốt giữ tại đây. Những trận chiến ác liệt nổ
ra. Trước lực lượng đông đảo của giặc, các cánh
quân Trần đều phải lui dần về phía sau. Vì vậy,
chẳng bao lâu, quân Nguyên đã chiếm được ải
Chi Lăng và tràn vào Đại Việt.
27
Trước thế giặc đang mạnh, đoàn chiến thuyền của Trần Hưng
Đạo ở Nội Bàng phải lui về giữ châu Lạng Giang (Bắc Giang).
Biết giặc mới sang còn đang sung sức, nếu đương đầu với chúng
lúc này sẽ bất lợi, ông có kế hoạch cho quân rút dần về Vạn Kiếp
(vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi đóng phủ đệ
của ông và cũng là một trong những chốt phòng thủ quan trọng
của nhà Trần.
28
Vua Trần Nhân Tông lúc đó đang chỉ huy khoảng 1000 thuyền
chiến ở Thăng Long, sẵn sàng chi viện. Nay nghe tin đại quân của
Trần Hưng Đạo phải rút lui thì rất lo lắng. Ngài vội lấy một chiếc
thuyền nhỏ đi gấp đến nỗi chiều rồi mà vẫn chưa kịp ăn sáng.
Có người lính là Trần Lai kiếm được bát cơm hẩm dâng lên. Vua
không quở trách mà còn khen Trần Lai là tôi trung.
29
Đến Hải Đông(*), nhà vua cho vời ngay Trần Hưng Đạo đến
hỏi: “- Thế giặc to như vậy, hay là trẫm đầu hàng để cứu muôn
dân khỏi cảnh chiến tranh?”. Trần Hưng Đạo khẳng khái tâu:
“- Xin bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”. Yên lòng trước sự quả
cảm của người chú họ, cũng là vị tướng tài ba, vua tôi cùng nhau
bàn bạc thế trận và việc chỉnh đốn quân lực.
* Khu vực biển gồm Hải Phòng, Hải Dương và
Quảng Ninh hiện nay. Ngoài ra còn có Hải Tây
là vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.
Đây là cách phân chia hành chính thời Trần.
30
Bấy giờ quân các cánh kéo về Vạn Kiếp hội tụ, lập trại san sát,
có đến hơn 20 ngàn người. Ngoài ra còn có hơn 100 thuyền chiến
đóng cách đấy không xa. Nhà vua đi duyệt binh, thấy sức mạnh
của quân đội, lòng cảm động thốt lên:
Cối Kê việc cũ người nên nhớ,
Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.
(Ý nói Câu Tiễn thời Chiến quốc ở Trung
Quốc, chỉ còn 1000 quân nhưng vẫn đánh
thắng giặc, huống gì nay ở Hoan Diễn, tức
vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, quân ta còn có đến
hơn chục vạn người).
31
Trong khi ấy Thoát Hoan
cũng đang tiến quân đến gần Vạn
Kiếp. Biết lực lượng nhà Trần rất
lớn, lại mạnh về quân thủy; hắn
cũng lập một đội thuyền chiến
gồm 60 chiếc vừa thu được với
khoảng 1300 tên lính và giao
cho Ô Mã Nhi, một viên tướng
thạo chiến trận, có khả năng thủy
chiến, chỉ huy.
32
Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), lực lượng thủy bộ giặc tấn
công vào Vạn Kiếp. Quân Trần chống cự mãnh liệt suốt 3 ngày,
chém chết một tên tướng Nguyên. Thấy các chốt trên bộ khó chống
đỡ được lâu, Trần Hưng Đạo cho quân rút xuống thuyền, xuôi theo
sông Hồng. Vua Nhân Tông cũng đem binh thuyền đến cửa sông
Đuống trợ chiến. Sau, để bảo toàn lực lượng, nhà vua cùng Trần
Hưng Đạo lui về lập phòng tuyến ở bờ nam sông Hồng, bảo vệ
kinh thành Thăng Long.
33
Chiếm được Vạn Kiếp, quân Nguyên tiếp tục tiến về Thăng
Long. Dọc đường, chúng cho quân tàn phá làng mạc, cướp bóc
lương thực, của cải. Bắt được ai thích chữ sát Thát trên tay, chúng
đều giết chết. Đến ngang sông Đuống, biết quân Trần đã lập một
phòng tuyến vững chắc với rào gỗ và thuyền chiến san sát ở bờ
nam sông Hồng, Thoát Hoan cho quân dừng lại lập trại để dò xét
động tĩnh.
34
Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), vua Trần Nhân Tông muốn
cử một người nhanh nhẹn sang trại giặc để thám thính binh tình.
Trong lúc phân vân chưa biết chọn ai thì quan văn Đỗ Khắc Chung
(sau được đổi danh tánh là Trần Khắc Chung), bước ra tâu:
- Thần tuy bất tài, nhưng cũng xin đi.
Nhà vua mừng rỡ nói:
- Không ngờ có người tài mà đến bây giờ mới lộ diện.
35
Cầm lá thư của nhà vua gửi
tướng giặc giả xin giảng hòa, Đỗ
Khắc Chung đường hoàng sang
trại quân của chúng. Ô Mã Nhi(*)
xem thư xong, lên giọng hạch
hỏi:
- Vua nước ngươi vô lễ, sai
người thích hai chữ sát Thát, tỏ
ý khinh thường quân thiên triều,
còn hòa cái gì?
* tên Mông Cổ là Omar
36
Khắc Chung vén tay áo cho Ô Mã Nhi xem và nói:
- Đấy là do lòng công phẫn mà quân lính tự thích vào hai chữ
ấy, chứ quốc vương không biết được. Nếu là lệnh bề trên, tôi là
người hầu gần, sao lại không có?
37
Ô Mã Nhi lại vặn tiếp:
- Đại quân ở xa đến, sao vua nước ngươi không tới yết kiến,
lại còn dám kháng cự? Thật là bọ ngựa dám chống xe!
Khắc Chung đối đáp:
- Bức bách nhau quá, loài thú cũng phải cắn huống gì là người.
38
Cứ như thế, Khắc Chung tùy nghi mà ứng đối rất rạch ròi, câu
nào ra câu ấy khiến cho tướng giặc không thể bắt bẻ vào đâu được.
Sau đó, ông đường hoàng cáo từ và quay trở về. Khi ông đi rồi, Ô
Mã Nhi nói với các thuộc tướng dưới trướng: “- Chúng nó đương
bị uy hiếp mà lời lẽ vẫn tự nhiên, không hạ chủ mình xuống, mà
cũng không nịnh ta. Nước này có những người như thế, chưa dễ
đã chiếm được”.
39
Suy nghĩ lại, đoán được mục đích chuyến viếng thăm của Khắc
Chung, Ô Mã Nhi hối hận đã để cho ông ra về nên vội vàng cho
người đuổi theo, nhưng không kịp. Khắc Chung đã vào được quân
Đại Việt. Vì thế hai bên giao tranh một trận bất phân thắng bại.
Nghe Đỗ Khắc Chung tâu lại, Thượng hoàng cùng nhà vua biết
quân giặc còn khá mạnh nên quyết định rút quân khỏi Thăng Long.
40
Để có thời gian rút lui, nhà vua lại sai hai đại quan là Trần
Thang và Nguyễn Nhuệ tiếp tục đến trại Thoát Hoan xin cầu hòa.
Nhưng lần này, chẳng cần hạch hỏi lôi thôi, hắn sai bắt giam cả hai
và đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành đến để bàn định, nếu
không hắn sẽ lập tức tấn công vào thành. Vua tôi nhà Trần đều vô
cùng lo lắng vì nếu không cầm chân được giặc thì triều đình khó
lòng rút được an toàn mà quân đội cũng không tránh khỏi tổn thất.
41
Đang lúc tưởng đã hết
cách thì Thượng hoàng
chợt nghĩ đến công chúa
An Tư, người em gái út
của mình. Nàng thật đoan
trang xinh đẹp với chiếc
mũi thanh tú và khuôn mặt
cân đối. Tính tình nàng lại
dịu dàng, hiền thục nên
được Thượng hoàng cùng
các anh khác như Quang
Khải, Nhật Duật hết lòng
thương yêu, chăm sóc.
42
Trước nạn nước cấp bách, để quân giặc
tin vào chuyện giả hòa, Thượng hoàng buộc
lòng phải nhờ đến An Tư. Nàng gạt nước
mắt, theo đoàn tùy tùng vào chốn ba quân
xa lạ. Nàng công chúa lá ngọc cành vàng ấy
sống thế nào bên cạnh tên tướng xâm lược
tàn bạo? Sử sách chẳng cho biết, chỉ biết
rằng người con gái út của vua Thái Tông đã
vì nước quên thân, đóng góp phần riêng của
mình trong trang sử vẻ vang chống ngoại
xâm thời Trần.
43
Trong khi An Tư được đưa đến trại Thoát Hoan thì quân Trần
nhanh chóng triển khai việc rút lui. Hưng Đạo vương hộ tống nhà
vua cùng triều đình lên thuyền, xuôi sông Hồng về đất phát tích
nhà Trần ở Thiên Trường (Nam Định).
44
Hôm sau, Thoát Hoan biết tin quân Trần rút liền đóng bè, làm
cầu phao, tiến quân vào thành. Nhưng kinh thành Thăng Long đâu
đâu cũng chỉ là cảnh “vườn không nhà trống”. Y tức tối ra lệnh
đốt phá và giết bất kỳ ai bắt được. Sau đó, Thoát Hoan lại cho
quân tức tốc đuổi theo vua Trần cả trên đường thủy lẫn đường bộ.
45
46
Đến bãi Mạn Trò (Hưng Yên), quân
Nguyên bị quân của Bảo Nghĩa vương
Trần Bình Trọng chốt chặn ở đây ra
đánh. Mạn Trò là bãi nổi lớn giữa sông
Hồng, chia dòng sông ra làm hai nhánh
khiến khúc sông này vô cùng hiểm trở.
Trần Bình Trọng đã cùng quân lính
chiến đấu dũng mảnh và đã ghìm chân
quân giặc ở đây tới 7 ngày.
47
Nhưng quân Trần chỉ có một ít lực lượng còn quân giặc thì
đông tràn lên bao vây và tấn công hết lớp này đến lớp khác. Cuối
cùng Trần Bình Trọng không may sa vào tay chúng. Biết ông là
tướng giỏi, Thoát Hoan rất muốn chiêu dụ. Hắn đặt tiệc thết đãi,
nhưng ông không ăn. Hắn lại mon men hỏi dò việc nước, ông
không trả lời. Thoát Hoan liền đem miếng mồi danh vọng ra, hứa
sẽ phong cho ông làm vua ở đất bắc nếu ông chịu hàng, dẫn hắn
đi bắt vua Trần.
48
Tái bản lần thứ tư
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai / Trần Bạch Đằng ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.23).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Trần dynasty, 1225-1400 — Pictorial works.
959.7024 — dc 22
C533
Lời giới thiệu
Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần
thứ nhất, Nguyên Mông lại nuôi dã tâm bành trướng, thâu
tóm Đại Việt. Bấy giờ, từ một dân tộc thiểu số, Nguyên
Mông đã tiêu diệt nhà Tống, vươn lên thành một đế quốc
hùng mạnh, trải rộng từ Á sang Âu.
Nhận biết được dã tâm ấy, nhà Trần đã lợi dụng lúc
hòa hoãn, Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo đã gắng công
điều luyện binh mã, có sự chủ động trong việc đối phó
với kẻ thù. Với lòng yêu nước, đoàn kết quyết tâm của
quân và dân nhà Trần, một lần nữa, Đại Việt đã đẩy lùi
cuộc xâm lược của vó ngựa Nguyên Mông đã gây sóng
gió trên toàn cầu lúc bấy giờ.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 23
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng giặc
Nguyên Mông lần thứ hai” phần lời do Tôn Nữ Quỳnh
Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể
hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 23 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
Nhà xuất bản Trẻ
3
Cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai
của Đại Việt kéo dài trong khoảng bốn tháng, từ cuối tháng
chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng tư năm Ất Dậu (khoảng
từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1285).
Dưới sự chỉ huy tài tình của vua quan nhà Trần bấy giờ
cùng với tinh thần đoàn kết toàn dân, Đại Việt đã một lần
nữa đánh tan kẻ thù xâm lược, giữ yên bờ cõi đất nước.
4
Sau thất bại năm 1258, nhà Nguyên luôn luôn sách nhiễu, chờ
cơ hội để xâm chiếm Đại Việt. Chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt liên
tiếp cho đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành sang chầu, đồng
thời bắt cống nộp hết thứ này đến thứ khác. Trước những đòi hỏi
ngang ngược ấy, vua tôi nhà Trần vừa tỏ ra kiên quyết nhưng cũng
cố nhẫn nhịn để tránh nạn binh đao. Năm 1280, nhà Nguyên lại
sai Sài Thung sang Đại Việt để kiếm cớ gây hấn.
5
Sài Thung là một tên kiêu căng. Vào đến Thăng Long, hắn hợm
mình là người của nhà Nguyên, nghênh ngang cưỡi ngựa đi thẳng
vào tận cung điện. Quân sĩ cản lại, bị hắn lấy roi ngựa đánh chảy
máu đầu. Hắn được đưa đến ở tại điện Tập Hiền. Vào chỗ nghỉ,
hắn nằm lỳ không chịu tiếp ai. Ngay cả tướng nhà Trần là Trần
Quang Khải, chú ruột vua Nhân Tông, thay mặt nhà vua đến tiếp
kiến, hắn cũng không thèm ngồi dậy.
6
Trần Hưng Đạo muốn dò biết ý đồ của Sài
Thung, bèn cắt tóc, mặc áo vải, giả dạng một
nhà sư đến thăm. Thấy nhà sư, Sài Thung sai
pha trà mời uống và tiếp chuyện. Nhưng khi
nhận ra Trần Hưng Đạo, hắn đã ngầm lệnh
cho thuộc hạ vờ lỡ tay, chọc mũi tên vào đầu
ông đến chảy máu. Vậy mà Trần Hưng Đạo
vẫn không đổi sắc mặt. Sài Thung có ý khâm
phục, nên khi ông ra về, hắn đứng dậy tiễn.
7
Sau một thời
gian hống hách tại
Thăng Long, hạch sách đe
dọa đủ điều, Sài Thung quay về
nước. Hiểu rõ dã tâm của nhà Nguyên và để quan hệ đỡ căng
thẳng, vua Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái dẫn đầu đoàn
sứ bộ sang chầu thay mình. Vào đến đất Nguyên, Trần Di Ái bị
Hốt Tất Liệt chiêu dụ, chấp nhận làm tay sai nên được phong là
An Nam Quốc vương tức là vua nước Đại Việt. Hắn theo viên
tướng của nhà Nguyên là Sài Thung dẫn 1.000 quân về nước với
ý đồ lên làm vua thay Trần Nhân Tông.
8
Đoàn của Trần Di Ái và Sài Thung đến gần biên giới thì vua
Trần Nhân Tông đã biết tin. Nhà vua cho quân đón sẵn ở ải Nam
Quan. Vừa thấy quân Trần, Di Ái sợ quá, định bỏ trốn nhưng không
thoát. Hắn bị bắt, bị lột hết chức tước và sung xuống làm lính. Còn
Sài Thung thì bị tên bắn chột một mắt, phải quay về. Ý đồ dựa
vào Di Ái để cai trị Đại Việt của nhà Nguyên tan thành mây khói.
9
Đầu năm 1283, với âm mưu tạo hai gọng kìm để dễ bề xâm lấn
Đại Việt, chúa Nguyên sai một đạo thủy quân do Toa Đô(*) cầm
đầu, vượt biển tấn công Chiêm Thành, hy vọng thôn tính nước
này để làm bàn đạp đánh vào phía nam Đại Việt, phối hợp với
đại quân của chúng kéo từ Trung Quốc xuống. Nhưng cuộc xâm
lăng này gặp thất bại trước sự chiến đấu kiên cường của người
Chiêm Thành. Tuy vậy, Toa Đô vẫn được lệnh đem quân đóng ở
biển phía bắc của Chiêm Thành để chờ.
* tên Mông Cổ là Sogetu.
10
Năm sau, để chuẩn bị đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt phong cho
con là Thái tử Thoát Hoan(*) tước hiệu Trấn Nam vương, có nghĩa
là Vua trấn giữ phương Nam. Lại cho những tên tướng dày kinh
nghiệm trận mạc, đã từng đánh thắng nhà Tống như Lý Hằng, A
Lý đi theo trợ giúp Thoát Hoan. Chúng cho thu gom một số lương
thảo rất lớn và bắt dân Trung Quốc phải làm sai dịch vận chuyển
theo đoàn quân. Nhiều người không chịu được, đã tìm cách bỏ trốn.
* tên Mông Cổ là Toghan.
11
Tin tức về việc chuẩn bị của quân Nguyên được quân thám mã
liên tục cấp báo về triều. Vua tôi nhà Trần không hề bị bất ngờ.
Ngay từ cuối năm Nhâm Ngọ (1282), để chuẩn bị cho Toa Đô đi
đánh Chiêm Thành, chúa Nguyên đã sai người sang đòi Đại Việt
phải cho mượn đường và giúp lương thực. Biết rõ âm mưu của
chúng, vua Trần đã triệu tập các vương hầu, quan lại để nghị bàn
kế sách chống giặc. Đó là hội nghị nổi tiếng ở Bình Than (ở Lục
Đầu, Chí Linh, Hải Dương nơi gặp nhau của 6 con sông cùng đổ
ra biển, cũng là nơi hội tụ của hai con đường thủy bộ chính từ
Trung Quốc sang). Nhà vua chọn địa điểm này vì khi ấy sứ nhà
Nguyên vẫn còn ở Thăng Long.
12
Đây là hội nghị rất quan trọng và
cần thiết để Thượng hoàng cùng vua
và các quan thảo luận và thống nhất
quyết tâm kháng chiến bảo vệ đất
nước. Hội nghị đang họp thì có ông
Trần Khánh Dư (vốn là tướng nhưng
phạm tội, phải về quê bán than; nay
nghe tin, ông tìm đến, được nhà vua
tha tội, phục hồi chức tước và cho
cùng ngồi nghị sự.
13
Lúc này hội nghị đang sôi nổi bàn đến chiến lược
đối với quân Nguyên. Một số kẻ cho rằng nên để quân
Nguyên mượn đường đi đánh Chiêm Thành, số lại bàn
nên cống nạp hậu hĩnh cho chúng để xin hoãn binh.
Nhưng Trần Hưng Đạo cùng các tướng cương quyết
xin đem quân đi trấn giữ các nơi hiểm yếu để sẵn sàng
chống giặc. Trần Khánh Dư cũng tán đồng ý ấy nên nhà
vua rất hài lòng, phong cho ông làm Phó Đô tướng quân,
giữ trọng trách bảo vệ cửa khẩu Vân Đồn.
14
Trong hội nghị Bình Than, có một dũng tướng lại không được
dự họp. Đó là Trần Quốc Toản, dù được theo tới Bình Than, nhưng
vì mới 16 tuổi, nên phải đứng ngoài. Trần Quốc Toản lấy làm uất
ức, tay đương cầm quả cam bóp bẹp ra lúc nào không hay. Khi
tan hội, các vương hầu ra về sắm sửa binh thuyền để cự địch. Trần
Quốc Toản cũng về tụ họp thân thuộc của mình, lập nên một đạo
quân gồm hơn ngàn người với lá cờ đề sáu chữ “Phá cường địch,
báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua) để tham gia đánh giặc.
15
Sau đó, nhà vua phong cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
làm Quốc công Tiết chế, nhận trọng trách thống lĩnh toàn quân;
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư,
cùng hợp lực với Trần Quốc Tuấn chỉ huy ba quân chống xâm
lăng. Trần Quang Khải (1241-1294) là con thứ ba của vua Thái
Tông, em cùng mẹ với Thượng hoàng Thánh Tông và là chú ruột
của vua Nhân Tông. Ông là người thông minh, học rộng, văn võ
toàn tài lại nổi tiếng là người thanh liêm, lâu nay vẫn được triều
đình nể trọng.
16
Trước đây, Trần Quang Khải
và Trần Quốc Tuấn không hòa
hợp với nhau do hiềm khích
giữa hai gia đình(*). Nhưng đến
lúc này, cả hai ông đều đặt
quyền lợi quốc gia lên trên,
đoàn kết lại với nhau. Sử cũ
chép rằng, một lần Trần Quốc
Tuấn từ Vạn Kiếp về kinh đô,
Trần Quang Khải đã xuống
thuyền của ông và hai người
cùng chơi cờ, uống rượu với
nhau suốt cả ngày.
* Xem Thành lập nhà Trần.
17
Biết trời lạnh, Quang Khải ngại tắm, Quốc Tuấn bèn sai nấu
nước thơm và tự tay tắm gội cho Quang Khải. Ông đùa bảo:
“-Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng đùa
lại: “- Hôm nay được ngài Quốc công tắm hầu”. Hai bên cư xử
với nhau thân tình chứng tỏ trong lòng không còn niềm nghi kỵ
nào. Điều đó khiến tướng sĩ thêm tin tưởng ở triều đình và càng
đoàn kết một lòng.
18
Để khích lệ mọi người đứng lên chiến đấu vì đại nghĩa, Trần
Hưng Đạo viết và truyền bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng. Trong hịch
có đoạn tha thiết: “... Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt
lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi
ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng...”
19
Hịch truyền ra, tướng sĩ
được khích lệ, ai nấy một lòng
diệt giặc. Họ lấy mực xâm lên
tay hai chữ “sát Thát” (giết quân
Nguyên) để tỏ rõ quyết tâm của mình.
Trần Hưng Đạo phân công các tướng
đi trấn giữ các nơi, riêng ông thống
lĩnh đại quân đóng ở cửa Nội Bàng.
Do đã sớm phòng bị chu đáo từ trước
như thế nên vua tôi nhà Trần hoàn toàn
chủ động trong việc chuẩn bị kháng
chiến.
20
Lúc này, 50 vạn quân Nguyên chia làm hai cánh, một cánh
theo đường Vân Nam đã áp sát biên giới phía tây Đại Việt. Còn
đại quân Nguyên do Thoát Hoan thống lĩnh, rầm rầm rộ rộ tiến
đến gần biên giới Lạng Sơn. Thoát Hoan lại giở trò cũ, cho người
đưa thư sang vua Trần nói rằng y không có ý đánh Đại Việt, chỉ
mượn đường đi đánh Chiêm Thành, hy vọng quân dân nhà Trần
tưởng thật, không phòng bị để dễ dàng đánh chiếm.
21
Chẳng lạ gì dã tâm của giặc,
vua Trần Nhân Tông sai người
mang thư trả lời: “Từ nước tôi
đến Chiêm Thành, cả đường
thủy đường bộ thảy đều không
tiện”. Thấy không khuất phục
được vua Trần, Thoát Hoan lại sai Tả
Thừa tướng là A Lý sang đưa thư cho Trần
Hưng Đạo hăm dọa sẽ phá tan bờ cõi Đại Việt nếu không cho
y mượn đường. Trần Hưng Đạo không thèm trả lời, cũng không
thèm giữ lễ, cho người đuổi thẳng A Lý.
22
Trước tình thế vô cùng khẩn cấp,
để quyết tâm của triều đình xuống đến
dân chúng và cũng để xem lòng dân
trước nạn nước thế nào, Thượng hoàng
Thánh Tông cho triệu mời các bô lão
về hội nghị ở điện Diên Hồng. Vào đầu
tháng 2 năm 1285, theo lời kêu gọi của
nhà vua, từ khắp mọi miền đất nước,
các bô lão đã không quản đường xa
cách trở, khí trời lạnh lẽo, nô nức kéo
về kinh thành Thăng Long. Thượng
hoàng và nhà vua cho đặt tiệc
ngay tại thềm điện để
đón tiếp.
23
24
Đứng trước các vị trưởng lão râu tóc bạc phơ, Thượng hoàng
hỏi: “Nên hòa hay nên chiến?”. Lập tức cả ngàn tiếng nói cùng hòa
làm một trong khí thế bừng bừng, tất cả hô vang: “Quyết chiến,
quyết chiến”. Lòng can đảm và ý chí quật cường của các bô lão
làm nức lòng triều đình cùng dân chúng. Hội nghị Diên Hồng mãi
mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần
đoàn kết chống kẻ thù xâm lược của nhân dân ta.
25
Sau đó, vua Trần cho yết bảng kêu gọi nhân dân hợp lực với
triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài
đến, phải liều chết mà đánh; nếu sức địch không nổi thì cho lẩn
trốn vào rừng núi, không được đầu hàng”. Cả nước bừng bừng khí
thế quyết tâm đánh giặc. Mọi người ai cũng đóng góp theo hoàn
cảnh của mình. Nhà giàu có khá giả quyên góp tiền bạc, lương
thực để nuôi quân; người bình dân thì góp công xay lúa giã gạo,
rèn đúc khí giới.
26
Tháng chạp năm Giáp Thân (1284), đại quân
Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy chia thành 6 mũi
tấn công vào các ải biên giới và bao vây quân
Trần chốt giữ tại đây. Những trận chiến ác liệt nổ
ra. Trước lực lượng đông đảo của giặc, các cánh
quân Trần đều phải lui dần về phía sau. Vì vậy,
chẳng bao lâu, quân Nguyên đã chiếm được ải
Chi Lăng và tràn vào Đại Việt.
27
Trước thế giặc đang mạnh, đoàn chiến thuyền của Trần Hưng
Đạo ở Nội Bàng phải lui về giữ châu Lạng Giang (Bắc Giang).
Biết giặc mới sang còn đang sung sức, nếu đương đầu với chúng
lúc này sẽ bất lợi, ông có kế hoạch cho quân rút dần về Vạn Kiếp
(vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi đóng phủ đệ
của ông và cũng là một trong những chốt phòng thủ quan trọng
của nhà Trần.
28
Vua Trần Nhân Tông lúc đó đang chỉ huy khoảng 1000 thuyền
chiến ở Thăng Long, sẵn sàng chi viện. Nay nghe tin đại quân của
Trần Hưng Đạo phải rút lui thì rất lo lắng. Ngài vội lấy một chiếc
thuyền nhỏ đi gấp đến nỗi chiều rồi mà vẫn chưa kịp ăn sáng.
Có người lính là Trần Lai kiếm được bát cơm hẩm dâng lên. Vua
không quở trách mà còn khen Trần Lai là tôi trung.
29
Đến Hải Đông(*), nhà vua cho vời ngay Trần Hưng Đạo đến
hỏi: “- Thế giặc to như vậy, hay là trẫm đầu hàng để cứu muôn
dân khỏi cảnh chiến tranh?”. Trần Hưng Đạo khẳng khái tâu:
“- Xin bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”. Yên lòng trước sự quả
cảm của người chú họ, cũng là vị tướng tài ba, vua tôi cùng nhau
bàn bạc thế trận và việc chỉnh đốn quân lực.
* Khu vực biển gồm Hải Phòng, Hải Dương và
Quảng Ninh hiện nay. Ngoài ra còn có Hải Tây
là vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.
Đây là cách phân chia hành chính thời Trần.
30
Bấy giờ quân các cánh kéo về Vạn Kiếp hội tụ, lập trại san sát,
có đến hơn 20 ngàn người. Ngoài ra còn có hơn 100 thuyền chiến
đóng cách đấy không xa. Nhà vua đi duyệt binh, thấy sức mạnh
của quân đội, lòng cảm động thốt lên:
Cối Kê việc cũ người nên nhớ,
Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.
(Ý nói Câu Tiễn thời Chiến quốc ở Trung
Quốc, chỉ còn 1000 quân nhưng vẫn đánh
thắng giặc, huống gì nay ở Hoan Diễn, tức
vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, quân ta còn có đến
hơn chục vạn người).
31
Trong khi ấy Thoát Hoan
cũng đang tiến quân đến gần Vạn
Kiếp. Biết lực lượng nhà Trần rất
lớn, lại mạnh về quân thủy; hắn
cũng lập một đội thuyền chiến
gồm 60 chiếc vừa thu được với
khoảng 1300 tên lính và giao
cho Ô Mã Nhi, một viên tướng
thạo chiến trận, có khả năng thủy
chiến, chỉ huy.
32
Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), lực lượng thủy bộ giặc tấn
công vào Vạn Kiếp. Quân Trần chống cự mãnh liệt suốt 3 ngày,
chém chết một tên tướng Nguyên. Thấy các chốt trên bộ khó chống
đỡ được lâu, Trần Hưng Đạo cho quân rút xuống thuyền, xuôi theo
sông Hồng. Vua Nhân Tông cũng đem binh thuyền đến cửa sông
Đuống trợ chiến. Sau, để bảo toàn lực lượng, nhà vua cùng Trần
Hưng Đạo lui về lập phòng tuyến ở bờ nam sông Hồng, bảo vệ
kinh thành Thăng Long.
33
Chiếm được Vạn Kiếp, quân Nguyên tiếp tục tiến về Thăng
Long. Dọc đường, chúng cho quân tàn phá làng mạc, cướp bóc
lương thực, của cải. Bắt được ai thích chữ sát Thát trên tay, chúng
đều giết chết. Đến ngang sông Đuống, biết quân Trần đã lập một
phòng tuyến vững chắc với rào gỗ và thuyền chiến san sát ở bờ
nam sông Hồng, Thoát Hoan cho quân dừng lại lập trại để dò xét
động tĩnh.
34
Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), vua Trần Nhân Tông muốn
cử một người nhanh nhẹn sang trại giặc để thám thính binh tình.
Trong lúc phân vân chưa biết chọn ai thì quan văn Đỗ Khắc Chung
(sau được đổi danh tánh là Trần Khắc Chung), bước ra tâu:
- Thần tuy bất tài, nhưng cũng xin đi.
Nhà vua mừng rỡ nói:
- Không ngờ có người tài mà đến bây giờ mới lộ diện.
35
Cầm lá thư của nhà vua gửi
tướng giặc giả xin giảng hòa, Đỗ
Khắc Chung đường hoàng sang
trại quân của chúng. Ô Mã Nhi(*)
xem thư xong, lên giọng hạch
hỏi:
- Vua nước ngươi vô lễ, sai
người thích hai chữ sát Thát, tỏ
ý khinh thường quân thiên triều,
còn hòa cái gì?
* tên Mông Cổ là Omar
36
Khắc Chung vén tay áo cho Ô Mã Nhi xem và nói:
- Đấy là do lòng công phẫn mà quân lính tự thích vào hai chữ
ấy, chứ quốc vương không biết được. Nếu là lệnh bề trên, tôi là
người hầu gần, sao lại không có?
37
Ô Mã Nhi lại vặn tiếp:
- Đại quân ở xa đến, sao vua nước ngươi không tới yết kiến,
lại còn dám kháng cự? Thật là bọ ngựa dám chống xe!
Khắc Chung đối đáp:
- Bức bách nhau quá, loài thú cũng phải cắn huống gì là người.
38
Cứ như thế, Khắc Chung tùy nghi mà ứng đối rất rạch ròi, câu
nào ra câu ấy khiến cho tướng giặc không thể bắt bẻ vào đâu được.
Sau đó, ông đường hoàng cáo từ và quay trở về. Khi ông đi rồi, Ô
Mã Nhi nói với các thuộc tướng dưới trướng: “- Chúng nó đương
bị uy hiếp mà lời lẽ vẫn tự nhiên, không hạ chủ mình xuống, mà
cũng không nịnh ta. Nước này có những người như thế, chưa dễ
đã chiếm được”.
39
Suy nghĩ lại, đoán được mục đích chuyến viếng thăm của Khắc
Chung, Ô Mã Nhi hối hận đã để cho ông ra về nên vội vàng cho
người đuổi theo, nhưng không kịp. Khắc Chung đã vào được quân
Đại Việt. Vì thế hai bên giao tranh một trận bất phân thắng bại.
Nghe Đỗ Khắc Chung tâu lại, Thượng hoàng cùng nhà vua biết
quân giặc còn khá mạnh nên quyết định rút quân khỏi Thăng Long.
40
Để có thời gian rút lui, nhà vua lại sai hai đại quan là Trần
Thang và Nguyễn Nhuệ tiếp tục đến trại Thoát Hoan xin cầu hòa.
Nhưng lần này, chẳng cần hạch hỏi lôi thôi, hắn sai bắt giam cả hai
và đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành đến để bàn định, nếu
không hắn sẽ lập tức tấn công vào thành. Vua tôi nhà Trần đều vô
cùng lo lắng vì nếu không cầm chân được giặc thì triều đình khó
lòng rút được an toàn mà quân đội cũng không tránh khỏi tổn thất.
41
Đang lúc tưởng đã hết
cách thì Thượng hoàng
chợt nghĩ đến công chúa
An Tư, người em gái út
của mình. Nàng thật đoan
trang xinh đẹp với chiếc
mũi thanh tú và khuôn mặt
cân đối. Tính tình nàng lại
dịu dàng, hiền thục nên
được Thượng hoàng cùng
các anh khác như Quang
Khải, Nhật Duật hết lòng
thương yêu, chăm sóc.
42
Trước nạn nước cấp bách, để quân giặc
tin vào chuyện giả hòa, Thượng hoàng buộc
lòng phải nhờ đến An Tư. Nàng gạt nước
mắt, theo đoàn tùy tùng vào chốn ba quân
xa lạ. Nàng công chúa lá ngọc cành vàng ấy
sống thế nào bên cạnh tên tướng xâm lược
tàn bạo? Sử sách chẳng cho biết, chỉ biết
rằng người con gái út của vua Thái Tông đã
vì nước quên thân, đóng góp phần riêng của
mình trong trang sử vẻ vang chống ngoại
xâm thời Trần.
43
Trong khi An Tư được đưa đến trại Thoát Hoan thì quân Trần
nhanh chóng triển khai việc rút lui. Hưng Đạo vương hộ tống nhà
vua cùng triều đình lên thuyền, xuôi sông Hồng về đất phát tích
nhà Trần ở Thiên Trường (Nam Định).
44
Hôm sau, Thoát Hoan biết tin quân Trần rút liền đóng bè, làm
cầu phao, tiến quân vào thành. Nhưng kinh thành Thăng Long đâu
đâu cũng chỉ là cảnh “vườn không nhà trống”. Y tức tối ra lệnh
đốt phá và giết bất kỳ ai bắt được. Sau đó, Thoát Hoan lại cho
quân tức tốc đuổi theo vua Trần cả trên đường thủy lẫn đường bộ.
45
46
Đến bãi Mạn Trò (Hưng Yên), quân
Nguyên bị quân của Bảo Nghĩa vương
Trần Bình Trọng chốt chặn ở đây ra
đánh. Mạn Trò là bãi nổi lớn giữa sông
Hồng, chia dòng sông ra làm hai nhánh
khiến khúc sông này vô cùng hiểm trở.
Trần Bình Trọng đã cùng quân lính
chiến đấu dũng mảnh và đã ghìm chân
quân giặc ở đây tới 7 ngày.
47
Nhưng quân Trần chỉ có một ít lực lượng còn quân giặc thì
đông tràn lên bao vây và tấn công hết lớp này đến lớp khác. Cuối
cùng Trần Bình Trọng không may sa vào tay chúng. Biết ông là
tướng giỏi, Thoát Hoan rất muốn chiêu dụ. Hắn đặt tiệc thết đãi,
nhưng ông không ăn. Hắn lại mon men hỏi dò việc nước, ông
không trả lời. Thoát Hoan liền đem miếng mồi danh vọng ra, hứa
sẽ phong cho ông làm vua ở đất bắc nếu ông chịu hàng, dẫn hắn
đi bắt vua Trần.
48
 





