Chủ đề năm học: 2025-2026:
```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````
Giới thiệu sách tháng 11
Bài hát: Trang sách mở ra thế giới
Trang sách mở ra thế giới của thủy
Bản tin
Tuần lễ áo dài
Lịch sử VN bằng tranh 25

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:06' 01-04-2025
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 15h:06' 01-04-2025
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ năm
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Cảnh
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Trần Hưng Đạo / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 5. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
104 tr, ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.25).
1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300 . 2. Tướng - Việt Nam - Sách tranh. 3. Việt Nam - Vua
và quần thần - Sách tranh. 4. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Trần, 1225-1400 - Sách
tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300. 2. Generals - Vietnam - Pictorial works. 3. Vietnam
- Kings and rulers - Pictorial works. 4. Vietnam - History - Trần dynasty, 1225-1400 Pictorial works.
959.7024092 - DC 22
T772
LỜi giỚi thIỆu
Vó ngựa xâm lược và mộng bành trướng của giặc Nguyên
– Mông đã đặt Đại Việt trước thử thách tồn vong. Nhưng
chính trong bối cảnh cam go ấy, lòng yêu nước của hoàng
tộc, quan lại và nhân dân Đại Việt cũng được thử thách. Bên
cạnh những kẻ sinh lòng phản trắc, Đại Việt bấy giờ không
thiếu những tấm lòng ưu quân ái quốc, mà nổi bật nhất chính
là vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo.
Vì nước nhà gạt bỏ thù riêng, vì đại sự gạt đi hiềm khích,
biết dùng người tài không màng chuyện cũ, khéo tiến cử
người tài chẳng màng xuất thân, …. bên cạnh tài cầm quân
thao lược làm nên một Hưng Đạo vương văn võ song toàn,
toàn tài vẹn đức được sử sách hết mực ngợi ca.
“tiếng vang đến phương Bắc, khiến chúng thường gọi ông
là An Nam Hưng Đạo vương mà không dám gọi thẳng tên”
Đại Việt sử ký toàn thư
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 25 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh Trần Hưng Đạo phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do họa sĩ
Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 25 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
Nhà xuất bản trẻ
Trần Hưng Đạo còn được gọi là Hưng Đạo vương,
chưa rõ ngày tháng năm sinh, mất ngày 20 tháng tám
âm lịch năm Canh Tý (1300).
Sử sách có ghi lại rằng, ngay từ nhỏ ông đã là người
có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và
nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông
sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn
võ”. Đó cũng là nền tảng vững chắc hun đúc nên một
nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài tình và một
bậc công thần hết lòng vì dân vì nước.
4
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn. Ông là con trai
thứ của An Sinh vương Trần Liễu và là cháu gọi Trần Cảnh (tức
vua Trần Thái Tông) là chú ruột. Sử sách không ghi lại năm sinh
của Trần Quốc Tuấn. Một số sử gia, sau khi đối chiếu nhiều sách
vở, nhiều sự kiện, cho rằng Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng
1229-1230. Như vậy, khi ông ra đời, nhà Trần đã nắm ngôi báu
được mấy năm.
5
Ông nội của Trần Hưng Đạo là Trần Thừa. Cuối thời Lý, nhờ
công phò giúp lúc nội biến, từ một gia đình đời đời làm nghề đánh
cá ở Tức Mặc (Nam Định), Trần Thừa trở thành quan Nội thị Phán
thủ. Khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa được tôn là Thái Tổ
mặc dù chưa làm vua ngày nào. Trong số 6 người con(*) của Thái
Tổ Trần Thừa, thì Trần Liễu là con trưởng. Như vậy, về thế thứ,
Trần Quốc Tuấn thuộc dòng trưởng trong hoàng tộc nhà Trần.
(*) Bốn con trai là: Trần Liễu (An Sinh vương), Trần Cảnh (vua Trần Thái
Tông), Trần Nhật Hiệu (Khâm Thiên vương), Trần Bà Liệt (Hoài Đức vương).
Hai con gái là: Thụy Bà công chúa và Thiên Thành công chúa.
6
Năm Trần Quốc Tuấn khoảng 5-6 tuổi, hoàng tộc nhà Trần xảy
ra biến cố lớn. Do bị Thái sư Trần Thủ Độ buộc phải nhường vợ là
công chúa Thuận Thiên đang có mang ba tháng cho em trai là vua
Trần Thái Tông(*), cha Quốc Tuấn là Trần Liễu làm loạn chống lại
vua và triều đình. Dù anh em đã hòa giải, nhưng từ đó, giữa hai
gia đình có sự rạn nứt sâu sắc khó hàn gắn được.
(*) Xem tập Thành lập nhà Trần.
7
Quốc Tuấn được cô ruột là Thụy Bà công chúa nhận làm con
nuôi. Tuy còn nhỏ, nhưng Quốc Tuấn đã tỏ ra thông minh nhanh
lẹ. Thấy con sáng dạ, Trần Liễu không tiếc tiền của công sức, mời
thầy giáo có tiếng tăm khắp nơi về dạy dỗ với mong muốn Quốc
Tuấn trở thành người tài giỏi để giúp ông rửa hận xưa.
8
Trần Quốc Tuấn học một biết mười, có năng khiếu cả về văn
chương lẫn võ nghệ, 7 tuổi đã biết làm thơ, lớn lên cưỡi ngựa bắn
cung đều giỏi. Với tài thao lược, ông chú tâm nghiên cứu binh
pháp của người xưa, nghiên cứu những trận đánh nổi tiếng của
những anh hùng dân tộc mà sử sách đã lưu truyền, rút ra cái hay
cái dở và tự phô diễn trận đồ rất linh hoạt.
9
Năm 21 tuổi, Trần Quốc Tuấn nên duyên với công chúa Thiên
Thành(*) và sinh hạ tất cả 5 người con, 1 gái 4 trai(**). Các con của
ông sau này đều là người thành đạt. Người con gái cả là Trinh
công chúa, sau là hoàng hậu của vua Nhân Tông, vị vua sát cánh
cùng Trần Quốc Tuấn trong hai cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên. Con trai bà chính là Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần
Anh Tông.
(*) Là cô ruột, triều Trần lấy nhau trong hoàng tộc vì sợ người khác họ cướp
ngôi.
(**) Trần Hưng Đạo còn có người con gái nuôi là Nguyên công chúa.
10
Bốn người con trai của
Trần Quốc Tuấn là Hưng
Vũ vương Trần Quốc
Hiển, Hưng Trí vương
Trần Quốc Nghiễn, Hưng
Nhượng vương Trần Quốc
Tảng, Hưng Hiến vương
Trần Quốc Uy đều là
những võ tướng có tài, đã
giúp ông rất nhiều trong
công cuộc đánh Nguyên.
Trần Quốc Hiển sau này
là phò mã của vua Thánh
Tông, còn Trần Quốc Tảng
có con gái là hoàng hậu
của vua Anh Tông. Riêng
Trần Quốc Nghiễn còn
có công khẩn hoang, biến
vùng đất hoang vu ở Hải
Dương thành những cánh
đồng phì nhiêu, xanh tốt.
11
Năm 1251, Trần Liễu, cha của Quốc
Tuấn lâm bệnh nặng. Trước khi qua đời,
Trần Liễu cầm tay Quốc Tuấn trăng trối:
- Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ (ý nói
cướp ngôi vua) nếu không cha nằm dưới
đất cũng không sao nhắm mắt được.
12
Biết lâu nay cha vẫn không quên oán hận cũ, Quốc Tuấn rất
thương cha. Là người con có hiếu, ông không khỏi suy nghĩ về di
huấn của người. Nhưng vua Thái Tông thật sự là một minh quân,
ngài chấn hưng đất nước khiến thiên hạ thái bình, lại đối xử với
anh em trong họ thân ái, độ lượng, Quốc Tuấn rất kính phục. Ông
không thể vì những lời nói của cha mà gây cảnh nồi da xáo thịt.
Nghĩ vậy, ông giữ kín những lời trối của cha không cho ai biết.
13
Là bà con gần với vua, nên Trần Quốc Tuấn được phong tước
Hưng Đạo vương. Vì vậy, ông thường được gọi là Trần Hưng
Đạo. Ông được phong thái ấp ở vùng Vạn Kiếp (Vạn Yên, Chí
Linh, Hải Dương). Đây là nơi có núi cao rừng rậm, lại gần nơi
hội tụ của 6 con sông(*) cùng đổ ra biển (Lục Đầu) nên vị trí rất
hiểm yếu.
(*) Sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, sông Lục Nam, sông Kinh Thầy và
sông Bình Than.
14
Bằng con mắt của một nhà quân sự, lại biết nhìn xa trông rộng,
Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng Vạn Kiếp thành một chốt cứ
điểm lợi hại, có thể phòng chống giặc phương Bắc bằng cả hai
mặt thủy bộ. Ở đây, ông còn xây dựng một khu vực trồng cây
thuốc nam để trị bệnh cho quân lính và dân trong vùng. Nơi trồng
thuốc của ông đến nay vẫn mang tên là ngọn Dược Sơn.
15
Phủ đệ của Trần Hưng Đạo luôn mở rộng cửa để đón bậc anh
tài. Những người có chí, có nhân hoặc dũng lược mà trung tín, dù
xuất thân nghèo khổ, ông đều giúp đỡ trau dồi tài năng rồi tiến
cử cho triều đình thu dụng. Nhiều danh nhân thời ấy như Trương
Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão đều là môn khách (khách được nuôi ăn
và ưu đãi trong nhà) của ông.
16
Phạm Ngũ Lão là người giỏi võ, quê ở làng Phù Ủng, huyện
Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên), xuất thân trong một gia
đình nghèo, sinh sống bằng nghề chẻ tre đan sọt. Một hôm Trần
Hưng Đạo từ Vạn Kiếp về kinh đi ngang qua vùng này, lúc ấy
Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt trên đường, vừa đan vừa mải
mê suy nghĩ nên không để ý đến xung quanh. Quân lính thét bảo
tránh đường, Phạm Ngũ Lão cũng không nghe thấy gì. Lính lấy
giáo đâm vào đùi ông, ông vẫn ngồi yên.
17
Lấy làm lạ, Trần Hưng Đạo hỏi: “Đùi nhà ngươi bị đâm như
thế, sao không biết đau, lại cứ ngồi yên như vậy?” Phạm Ngũ Lão
mới bừng tỉnh đáp lại: “Tôi đang nghĩ mấy câu trong binh thư
(sách về binh lược) nên không thấy gì cả!” Trần Hưng Đạo thử
hỏi về binh cơ thì ông ứng đối rất trôi chảy. Cảm nhận được người
tài, Trần Hưng Đạo mời Phạm Ngũ Lão theo về với mình.
18
Nhiều người chê Phạm Ngũ Lão là kẻ hàn vi, không tin ông có
tài và thách đấu với ông. Nhưng sức ông vật ngã năm sáu vệ sĩ,
mọi người đều phải phục. Còn Trần Hưng Đạo thì đem con gái
nuôi là Nguyên công chúa gả cho Phạm Ngũ Lão rồi tiến cử ông
lên vua Nhân Tông.
19
Phạm Ngũ Lão được vua phong làm chỉ huy cấm quân. Ông
điều khiển quân lính có kỉ luật, đối đãi với tướng sĩ như người
nhà, cùng sĩ tốt đồng cam cộng khổ, được ban thưởng gì đều bỏ
vào kho chung của quân, không hề bận tâm với tiền của. Vì vậy,
quân dưới trướng ông trên dưới yêu thương nhau như cha con một
nhà, đều hết lòng chiến đấu nên đánh đâu thắng đó.
20
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, ông phù
trợ tích cực cho Trần Hưng Đạo, góp công vào các trận đánh lớn
quyết định như trận Chương Dương, Tây Kết. Đặc biệt trong trận
mai phục đường rút của Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, ông đã lập công
bắn chết một tướng giặc. Nhưng Phạm Ngũ Lão không chỉ là một
võ tướng, ông còn là một nhà thơ, có một bài thơ tứ tuyệt được
lưu truyền trong sử sách mà đời sau gọi là bài Thuật Hoài (dịch):
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh trai tráng còn mang nợ
Luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu(*).
(*) tức Gia Cát Lượng.
21
Trong khi Phạm Ngũ Lão là một võ tướng
thì Trương Hán Siêu là một nhà nho, quê ở làng Phúc Am, huyện
An Khánh, lộ Trường Yên (nay thuộc thành phố Ninh Bình). Biết
ông là người văn hay chữ tốt, kiến thức uyên bác, Trần Hưng Đạo
giao cho ông phụ trách viện văn thư trong vương phủ của mình.
Sau một thời gian, Trần Hưng Đạo tiến cử Trương Hán Siêu lên
nhà vua và được nhà vua trọng dụng.
22
Trương Hán Siêu được giao giữ chức
Hàn Lâm học sĩ và nhiều chức vụ quan
trọng khác trong hàng quan văn. Những
tác phẩm văn chương của ông rất nổi
tiếng, đặc biệt nhất là bài phú Bạch Đằng
Giang. Xúc động trước chiến công tuyệt
vời của quân dân Đại Việt đánh thắng
giặc Nguyên - Mông hung hãn, ông đã
sáng tác ra bài phú xuất chúng ấy và dành
những câu trân trọng để ca ngợi tài cầm
quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn.
23
Với những gia nô trong nhà, nếu có thực tài, Trần Hưng Đạo
đều tin cậy và giao phó trọng trách. Yết Kiêu là người có tài bơi
lặn lâu trong nước, còn Dã Tượng thì to lớn, khỏe mạnh. Cả hai
được Trần Hưng Đạo nuôi nấng, dạy dỗ chu đáo; bù lại, Yết Kiêu
và Dã Tượng cũng rất trung thành với ông. Dã Tượng là người
không rời Trần Hưng Đạo nửa bước, vừa sát cánh chiến đấu, vừa
bảo vệ chủ.
24
Còn Yết Kiêu, với tài bơi lặn, đã từng giúp Trần Hưng Đạo đục
đắm thuyền của quân Nguyên. Được giao trông coi thuyền chiến,
Yết Kiêu đã nêu tấm gương sáng không chỉ là lòng trung thành với
chủ mà còn là ý thức kỷ luật của người lính trước mệnh lệnh của
chủ tướng. Trong lần chống quân Nguyên năm 1285, quân giặc
tràn vào Lạng Sơn, quân Đại Việt không thể chống đỡ, đều đã rút
lui. Riêng Yết Kiêu bất chấp nguy hiểm, vẫn chống thuyền chờ
Trần Hưng Đạo và kịp thời đưa ông đi trước khi quân giặc ập đến.
25
Trần Hưng Đạo vô cùng cảm kích trước sự hi sinh của Yết
Kiêu và Dã Tượng. Ông cho rằng những người làm nên được
những chiến tích oai hùng đều phải nhờ đến những người dưới
quyền như Yết Kiêu và Dã Tượng. Ông đã ca ngợi họ qua câu
nói: “Chim hồng hộc (ám chỉ những người làm nên chiến tích)
có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh (ám chỉ
những người bình dân), nếu không thì chim hồng hộc cũng như
chim thường thôi”.
26
Việc Trần Hưng Đạo đánh giá cao vai trò của tầng lớp bình dân
lao động đã có ảnh hưởng đến vua Trần Nhân Tông. Nhà vua có
thái độ ân cần đối với tầng lớp này và bảo với các quan lại phải
biết đến công lao của họ: “Ngày thường ta có nhiều kẻ hầu người
hạ hai bên, nhưng khi nước nhà hoạn nạn thì chỉ có bọn họ đi theo
thôi”.
27
Nhưng Trần Hưng Đạo được mọi người quý trọng và theo về
không phải chỉ vì ông là người chủ độ lượng, mà hơn tất cả, chính
vì ông là người trung nghĩa, hết lòng vì nước vì dân. Khi quân
Nguyên sang xâm lấn Đại Việt, quyền bính nằm cả trong tay, nếu
thực hiện theo di chúc của cha thì đó là thời cơ thuận tiện nhất.
Nhưng ông đã không hành động gì mà còn tỏ rõ ý muốn xóa bỏ
hận thù. Một hôm, để tỏ ý kiên định và cũng để thử lòng người
thân cận, Trần Hưng Đạo họp các con cùng tướng tá, gia nô và
nhắc lại lời trăn trối của cha.
28
Hai gia nô tâm phúc là Yết Kiêu và Dã Tượng
khẳng khái bày tỏ ý nghĩ của mình:
- Đại vương quyền cao chức trọng như thế là
đủ lắm rồi, chúng tôi thà làm gia nô suốt đời chứ
không muốn làm quan mà mang tiếng là người
không trung nghĩa.
Các con của Trần Hưng Đạo cũng tán đồng:
- Việc cướp ngôi đối với người khác họ cũng
đã không nên làm, huống chi là anh em trong
cùng một dòng tộc.
29
Hưng Đạo vương rất hài lòng trước những lời nói đầy nghĩa
tình đó. Nhưng riêng người con trai thứ ba là Hưng Nhượng
vương Trần Quốc Tảng lại hung hăng lên tiếng:
- Vua Tống trước đây chỉ là một nông phu mà còn chớp được
thời cơ, cướp được thiên hạ, huống chi nhà ta là danh gia vọng tộc.
30
Những lời bạc tình bạc nghĩa này làm cho Trần Hưng Đạo rất
tức giận. Ông rút gươm định chém người con có lòng dạ bất trung
ấy, nhưng mọi người hết lòng can gián. Ông đành đuổi Trần Quốc
Tảng đi và truyền lệnh:
- Sau này khi ta chết phải đậy nắp quan tài mới cho nó vào
viếng.
31
Không những răn dạy con cháu trong nhà, Trần Hưng Đạo còn
chủ động hòa giải với anh em trong họ. Trong cư xử hàng ngày,
ông luôn giữ thái độ khiêm nhường, hòa mục. Tuy với địa vị
của mình, ông được phép ban thưởng chức tước cho người khác,
nhưng chưa bao giờ Trần Hưng Đạo sử dụng quyền hạn ấy. Lúc
giặc Nguyên xâm lấn, nhiều nhà giàu đóng góp lúa gạo, vũ khí
cho quân đội. Để động viên khuyến khích, ông cũng ban cho họ
chức Lang tướng nhưng chỉ tạm thời, chờ vua chuẩn y mới dám
quyết định.
32
Một lần vua Thánh Tông đi dẹp loạn Mán Bà La, có Trần
Quang Khải đi theo hộ giá. Lúc ấy sứ nhà Nguyên sang, Thượng
hoàng Trần Thái Tông cho vời Trần Hưng Đạo đến bảo:
- Nay Thượng tướng vắng mặt, trẫm muốn phong cho khanh
chức Tư đồ để ứng đối với Bắc sứ.
33
Vốn là người chính trực, không muốn có sự hiểu lầm rằng
mình lợi dụng lúc vua và Quang Khải đi vắng để tranh giành chức
tước, Trần Hưng Đạo liền tâu:
- Ứng tiếp sứ giả, thần không dám từ chối nhưng chức Tư đồ,
thần không dám nhận. Nay Quan gia(*) cùng Thượng tướng đi
đánh giặc nơi xa, bệ hạ lại tự ý làm việc phong chức thì tình nghĩa
trên dưới e rằng không ổn thỏa.
(*) Thời Trần gọi vua là Quan gia.
34
Bằng thái độ nhún nhường và trân trọng như thế, Trần Hưng
Đạo đã lấy lại lòng tin của vua và các anh em trong họ. Sử sách
còn ghi lại câu chuyện cảm động về tình cảm chân thành của Trần
Hưng Đạo với người em con chú là Trần Quang Khải. Một lần
Quang Khải có việc phải xuống thuyền của ông, ông đã lấy nước
thơm dội cho Quang Khải tắm để tỏ rõ tấm lòng thuận thảo của
mình. Trần Quang Khải rất xúc động trước cử chỉ ấy, và sau này,
hai người sát cánh bên nhau trong công cuộc chống quân Nguyên.
35
Sự hiềm khích trong nhà, trong hoàng tộc đã được giải quyết,
nhưng bóng mây nghi ngờ vẫn còn lởn vởn trong triều đình. Có
lần trong chuyến bảo vệ vua chạy lánh quân Nguyên, Trần Hưng
Đạo cầm theo chiếc gậy chống có mũi bịt sắt. Nhiều người lo lắng
sợ ông thừa cơ giết vua. Trần Hưng Đạo liền tháo mũi sắt ra vứt
đi và chỉ cầm gậy không. Vì thế không còn ai nghi ngờ ông nữa.
36
Bên cạnh những phẩm chất cao quý, Trần Hưng Đạo còn là
một vị tướng tài ba. Ông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần
đánh bại giặc Nguyên Mông hung hãn nhất bấy giờ. Vào năm
1258, quân Mông Cổ sang xâm lấn Đại Việt lần thứ nhất. Khi ấy
Trần Hưng Đạo chưa đến 30 tuổi. Ông được lệnh vua đem quân
thủy bộ đi trấn giữ biên giới phía Bắc. Ông đã xuất sắc hoàn thành
nhiệm vụ của mình, thông báo chính xác tình hình động binh của
quân giặc giúp triều đình kịp ứng phó.
37
Sau đó, ông đã rút quân về phối hợp với nhà vua chống giặc
ở Bình Lệ Nguyên và cuối cùng là tập kích giặc ở Đông Bộ Đầu
khiến chúng phải rút chạy về nước. Trong lần chống giặc này,
ông chưa giữ vai trò quyết định nhưng sự tận tụy, lòng quả cảm
và đức độ của vị tướng trẻ đã khiến Thái sư Trần Thủ Độ và vua
Thái Tông thêm tin tưởng vào lòng trung thành và tài cầm quân
của Trần Hưng Đạo.
38
Sau trận đại bại lần thứ nhất, quân Mông Cổ rất muốn phục thù
ngay, nhưng lúc đó, chúa Mông Cổ là Mông Kha chết. Hốt Tất
Liệt lên thay, đổi quốc hiệu là Nguyên. Nhà Nguyên lại tiến quân
xâm lược nhà Tống (Trung Quốc) nên chưa rảnh tay phục thù Đại
Việt. Tuy vậy, chúng vẫn liên tục cho sứ giả sang hạch sách vua
Trần, đòi phải tiến cống và sang chầu.
39
Lợi dụng tình thế ấy, nhà Trần đã cố gắng kéo dài thời kì hòa
hoãn để củng cố lực lượng. Thời gian này, Trần Hưng Đạo lại góp
phần mình trên mặt trận ngoại giao, thể hiện là một nhà ngoại giao
xuất sắc. Năm 1281, sứ giặc là Sài Thung đến nước ta, nghênh
ngang cưỡi ngựa vào tận thềm điện Tập Hiền. Thượng tướng Thái
sư Trần Quang Khải vào gặp, hắn nằm ngoảnh mặt vào trong,
không chịu tiếp.
40
Trần Hưng Đạo liền gọt tóc, ăn mặc như một nhà sư đến gặp
Thung. Thấy ông bước vào với phong thái ung dung, Thung tưởng
là một nhà sư phương Bắc, lật đật ngồi dậy tiếp. Sau nhận ra Trần
Hưng Đạo, y ra hiệu cho tên lính cầm mũi tên đâm vào đầu ông
đến chảy máu, nhưng ông vẫn không thay đổi sắc mặt. Thung rất
phục, tiếp đón Trần Hưng Đạo chu đáo, khi ông cáo từ, y theo ra
tận cửa để tiễn.
41
42
Qua những cuộc tiếp xúc ngoại giao như vậy, nhà Trần biết
được ý đồ của quân Nguyên muốn mượn đường tiến đánh Chiêm
Thành, nhưng thực chất là xâm lược Đại Việt. Vì vậy vào cuối
năm 1282, vua Trần triệu tập hội nghị các vương hầu để lên chiến
lược đối phó với quân Nguyên. Hôm ấy, tại bến Bình Than, gần
phủ đệ Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, thuyền chiến đậu san sát,
tinh kỳ phấp phới. Tất cả các vương hầu trong tôn thất nhà Trần
đều có mặt.
43
Ở đây, một lần nữa, Trần Hưng Đạo lại chứng tỏ mình là một
con người vì nước quên nhà. Mấy năm trước, Trần Khánh Dư vì
có quan hệ với con dâu sắp cưới của Trần Hưng Đạo nên bị vua
phạt lột bỏ hết chức tước phải về quê bán than. Nay trước nạn
nước, Trần Hưng Đạo sẵn sàng bỏ qua lỗi lầm của Khánh Dư,
chấp nhận để Khánh Dư lên thuyền cùng bàn việc nước.
44
Trần Khánh Dư đã không phụ lòng của Trần Hưng Đạo. Trong
khi các quan cứ bàn đi tính lại, người thì cho rằng cứ đem đồ tiến
cống để dùng kế hoãn binh, người lại sợ chiến tranh nên muốn để
quân Nguyên mượn đường... Cứ thế hai bên tranh cãi, không đi
đến quyết định nào thì Trần Khánh Dư tán đồng ý kiến của Trần
Hưng Đạo là phải cương quyết đem quân chống giữ các nơi hiểm
yếu.
45
Lập trường của Trần Hưng Đạo rất hợp ý Thượng hoàng Thánh
Tông và vua Nhân Tông. Ngài phong cho Trần Hưng Đạo làm
tổng chỉ huy quân đội với tước vị Quốc công Tiết chế. Lại phong
cho Trần Khánh Dư là Phó tướng phụ trách vùng biển Vân Đồn.
Nhận trọng trách, Trần Hưng Đạo đem hết sức mình ra gánh vác.
Yên tâm về mặt biển đã có Khánh Dư, ông ngày đêm thao luyện
quân sĩ, chỉnh đốn đội ngũ, sắm sửa khí giới, sẵn sàng chờ giặc.
46
Bên cạnh đó, để hun đúc tinh thần yêu nước, lòng can đảm
cho quân và dân, Trần Hưng Đạo đã viết bài hịch cho các tướng
sĩ. Bằng những lời lẽ thắm thiết, hùng hồn, bằng những phân
tích đanh thép mà chứa chan tình cảm, mỗi lời hịch của Trần
Hưng Đạo thấm thía đến từng con người: “Dẫu cho trăm thân
này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
cam lòng...”
47
Bài hịch của vị Quốc công Tiết chế đã khơi dậy lòng quyết
tâm đánh giặc của quân dân Đại Việt, lay động và thức tỉnh tất
cả những kẻ còn đang thờ ơ trước nạn nước. Không kìm được, cả
khối người đồng thanh hô to: Sát Thát! Sau đó tất cả tự nguyện
lấy chàm thích lên tay hai chữ này để tỏ rõ quyết tâm của mình.
“Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo thực sự là một áng thiên cổ
hùng văn, có giá trị lớn trong nền văn học nước nhà.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Cảnh
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Trần Hưng Đạo / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 5. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
104 tr, ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.25).
1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300 . 2. Tướng - Việt Nam - Sách tranh. 3. Việt Nam - Vua
và quần thần - Sách tranh. 4. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Trần, 1225-1400 - Sách
tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300. 2. Generals - Vietnam - Pictorial works. 3. Vietnam
- Kings and rulers - Pictorial works. 4. Vietnam - History - Trần dynasty, 1225-1400 Pictorial works.
959.7024092 - DC 22
T772
LỜi giỚi thIỆu
Vó ngựa xâm lược và mộng bành trướng của giặc Nguyên
– Mông đã đặt Đại Việt trước thử thách tồn vong. Nhưng
chính trong bối cảnh cam go ấy, lòng yêu nước của hoàng
tộc, quan lại và nhân dân Đại Việt cũng được thử thách. Bên
cạnh những kẻ sinh lòng phản trắc, Đại Việt bấy giờ không
thiếu những tấm lòng ưu quân ái quốc, mà nổi bật nhất chính
là vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo.
Vì nước nhà gạt bỏ thù riêng, vì đại sự gạt đi hiềm khích,
biết dùng người tài không màng chuyện cũ, khéo tiến cử
người tài chẳng màng xuất thân, …. bên cạnh tài cầm quân
thao lược làm nên một Hưng Đạo vương văn võ song toàn,
toàn tài vẹn đức được sử sách hết mực ngợi ca.
“tiếng vang đến phương Bắc, khiến chúng thường gọi ông
là An Nam Hưng Đạo vương mà không dám gọi thẳng tên”
Đại Việt sử ký toàn thư
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 25 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh Trần Hưng Đạo phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do họa sĩ
Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 25 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
Nhà xuất bản trẻ
Trần Hưng Đạo còn được gọi là Hưng Đạo vương,
chưa rõ ngày tháng năm sinh, mất ngày 20 tháng tám
âm lịch năm Canh Tý (1300).
Sử sách có ghi lại rằng, ngay từ nhỏ ông đã là người
có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và
nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông
sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn
võ”. Đó cũng là nền tảng vững chắc hun đúc nên một
nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài tình và một
bậc công thần hết lòng vì dân vì nước.
4
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn. Ông là con trai
thứ của An Sinh vương Trần Liễu và là cháu gọi Trần Cảnh (tức
vua Trần Thái Tông) là chú ruột. Sử sách không ghi lại năm sinh
của Trần Quốc Tuấn. Một số sử gia, sau khi đối chiếu nhiều sách
vở, nhiều sự kiện, cho rằng Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng
1229-1230. Như vậy, khi ông ra đời, nhà Trần đã nắm ngôi báu
được mấy năm.
5
Ông nội của Trần Hưng Đạo là Trần Thừa. Cuối thời Lý, nhờ
công phò giúp lúc nội biến, từ một gia đình đời đời làm nghề đánh
cá ở Tức Mặc (Nam Định), Trần Thừa trở thành quan Nội thị Phán
thủ. Khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa được tôn là Thái Tổ
mặc dù chưa làm vua ngày nào. Trong số 6 người con(*) của Thái
Tổ Trần Thừa, thì Trần Liễu là con trưởng. Như vậy, về thế thứ,
Trần Quốc Tuấn thuộc dòng trưởng trong hoàng tộc nhà Trần.
(*) Bốn con trai là: Trần Liễu (An Sinh vương), Trần Cảnh (vua Trần Thái
Tông), Trần Nhật Hiệu (Khâm Thiên vương), Trần Bà Liệt (Hoài Đức vương).
Hai con gái là: Thụy Bà công chúa và Thiên Thành công chúa.
6
Năm Trần Quốc Tuấn khoảng 5-6 tuổi, hoàng tộc nhà Trần xảy
ra biến cố lớn. Do bị Thái sư Trần Thủ Độ buộc phải nhường vợ là
công chúa Thuận Thiên đang có mang ba tháng cho em trai là vua
Trần Thái Tông(*), cha Quốc Tuấn là Trần Liễu làm loạn chống lại
vua và triều đình. Dù anh em đã hòa giải, nhưng từ đó, giữa hai
gia đình có sự rạn nứt sâu sắc khó hàn gắn được.
(*) Xem tập Thành lập nhà Trần.
7
Quốc Tuấn được cô ruột là Thụy Bà công chúa nhận làm con
nuôi. Tuy còn nhỏ, nhưng Quốc Tuấn đã tỏ ra thông minh nhanh
lẹ. Thấy con sáng dạ, Trần Liễu không tiếc tiền của công sức, mời
thầy giáo có tiếng tăm khắp nơi về dạy dỗ với mong muốn Quốc
Tuấn trở thành người tài giỏi để giúp ông rửa hận xưa.
8
Trần Quốc Tuấn học một biết mười, có năng khiếu cả về văn
chương lẫn võ nghệ, 7 tuổi đã biết làm thơ, lớn lên cưỡi ngựa bắn
cung đều giỏi. Với tài thao lược, ông chú tâm nghiên cứu binh
pháp của người xưa, nghiên cứu những trận đánh nổi tiếng của
những anh hùng dân tộc mà sử sách đã lưu truyền, rút ra cái hay
cái dở và tự phô diễn trận đồ rất linh hoạt.
9
Năm 21 tuổi, Trần Quốc Tuấn nên duyên với công chúa Thiên
Thành(*) và sinh hạ tất cả 5 người con, 1 gái 4 trai(**). Các con của
ông sau này đều là người thành đạt. Người con gái cả là Trinh
công chúa, sau là hoàng hậu của vua Nhân Tông, vị vua sát cánh
cùng Trần Quốc Tuấn trong hai cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên. Con trai bà chính là Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần
Anh Tông.
(*) Là cô ruột, triều Trần lấy nhau trong hoàng tộc vì sợ người khác họ cướp
ngôi.
(**) Trần Hưng Đạo còn có người con gái nuôi là Nguyên công chúa.
10
Bốn người con trai của
Trần Quốc Tuấn là Hưng
Vũ vương Trần Quốc
Hiển, Hưng Trí vương
Trần Quốc Nghiễn, Hưng
Nhượng vương Trần Quốc
Tảng, Hưng Hiến vương
Trần Quốc Uy đều là
những võ tướng có tài, đã
giúp ông rất nhiều trong
công cuộc đánh Nguyên.
Trần Quốc Hiển sau này
là phò mã của vua Thánh
Tông, còn Trần Quốc Tảng
có con gái là hoàng hậu
của vua Anh Tông. Riêng
Trần Quốc Nghiễn còn
có công khẩn hoang, biến
vùng đất hoang vu ở Hải
Dương thành những cánh
đồng phì nhiêu, xanh tốt.
11
Năm 1251, Trần Liễu, cha của Quốc
Tuấn lâm bệnh nặng. Trước khi qua đời,
Trần Liễu cầm tay Quốc Tuấn trăng trối:
- Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ (ý nói
cướp ngôi vua) nếu không cha nằm dưới
đất cũng không sao nhắm mắt được.
12
Biết lâu nay cha vẫn không quên oán hận cũ, Quốc Tuấn rất
thương cha. Là người con có hiếu, ông không khỏi suy nghĩ về di
huấn của người. Nhưng vua Thái Tông thật sự là một minh quân,
ngài chấn hưng đất nước khiến thiên hạ thái bình, lại đối xử với
anh em trong họ thân ái, độ lượng, Quốc Tuấn rất kính phục. Ông
không thể vì những lời nói của cha mà gây cảnh nồi da xáo thịt.
Nghĩ vậy, ông giữ kín những lời trối của cha không cho ai biết.
13
Là bà con gần với vua, nên Trần Quốc Tuấn được phong tước
Hưng Đạo vương. Vì vậy, ông thường được gọi là Trần Hưng
Đạo. Ông được phong thái ấp ở vùng Vạn Kiếp (Vạn Yên, Chí
Linh, Hải Dương). Đây là nơi có núi cao rừng rậm, lại gần nơi
hội tụ của 6 con sông(*) cùng đổ ra biển (Lục Đầu) nên vị trí rất
hiểm yếu.
(*) Sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, sông Lục Nam, sông Kinh Thầy và
sông Bình Than.
14
Bằng con mắt của một nhà quân sự, lại biết nhìn xa trông rộng,
Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng Vạn Kiếp thành một chốt cứ
điểm lợi hại, có thể phòng chống giặc phương Bắc bằng cả hai
mặt thủy bộ. Ở đây, ông còn xây dựng một khu vực trồng cây
thuốc nam để trị bệnh cho quân lính và dân trong vùng. Nơi trồng
thuốc của ông đến nay vẫn mang tên là ngọn Dược Sơn.
15
Phủ đệ của Trần Hưng Đạo luôn mở rộng cửa để đón bậc anh
tài. Những người có chí, có nhân hoặc dũng lược mà trung tín, dù
xuất thân nghèo khổ, ông đều giúp đỡ trau dồi tài năng rồi tiến
cử cho triều đình thu dụng. Nhiều danh nhân thời ấy như Trương
Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão đều là môn khách (khách được nuôi ăn
và ưu đãi trong nhà) của ông.
16
Phạm Ngũ Lão là người giỏi võ, quê ở làng Phù Ủng, huyện
Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên), xuất thân trong một gia
đình nghèo, sinh sống bằng nghề chẻ tre đan sọt. Một hôm Trần
Hưng Đạo từ Vạn Kiếp về kinh đi ngang qua vùng này, lúc ấy
Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt trên đường, vừa đan vừa mải
mê suy nghĩ nên không để ý đến xung quanh. Quân lính thét bảo
tránh đường, Phạm Ngũ Lão cũng không nghe thấy gì. Lính lấy
giáo đâm vào đùi ông, ông vẫn ngồi yên.
17
Lấy làm lạ, Trần Hưng Đạo hỏi: “Đùi nhà ngươi bị đâm như
thế, sao không biết đau, lại cứ ngồi yên như vậy?” Phạm Ngũ Lão
mới bừng tỉnh đáp lại: “Tôi đang nghĩ mấy câu trong binh thư
(sách về binh lược) nên không thấy gì cả!” Trần Hưng Đạo thử
hỏi về binh cơ thì ông ứng đối rất trôi chảy. Cảm nhận được người
tài, Trần Hưng Đạo mời Phạm Ngũ Lão theo về với mình.
18
Nhiều người chê Phạm Ngũ Lão là kẻ hàn vi, không tin ông có
tài và thách đấu với ông. Nhưng sức ông vật ngã năm sáu vệ sĩ,
mọi người đều phải phục. Còn Trần Hưng Đạo thì đem con gái
nuôi là Nguyên công chúa gả cho Phạm Ngũ Lão rồi tiến cử ông
lên vua Nhân Tông.
19
Phạm Ngũ Lão được vua phong làm chỉ huy cấm quân. Ông
điều khiển quân lính có kỉ luật, đối đãi với tướng sĩ như người
nhà, cùng sĩ tốt đồng cam cộng khổ, được ban thưởng gì đều bỏ
vào kho chung của quân, không hề bận tâm với tiền của. Vì vậy,
quân dưới trướng ông trên dưới yêu thương nhau như cha con một
nhà, đều hết lòng chiến đấu nên đánh đâu thắng đó.
20
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, ông phù
trợ tích cực cho Trần Hưng Đạo, góp công vào các trận đánh lớn
quyết định như trận Chương Dương, Tây Kết. Đặc biệt trong trận
mai phục đường rút của Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, ông đã lập công
bắn chết một tướng giặc. Nhưng Phạm Ngũ Lão không chỉ là một
võ tướng, ông còn là một nhà thơ, có một bài thơ tứ tuyệt được
lưu truyền trong sử sách mà đời sau gọi là bài Thuật Hoài (dịch):
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh trai tráng còn mang nợ
Luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu(*).
(*) tức Gia Cát Lượng.
21
Trong khi Phạm Ngũ Lão là một võ tướng
thì Trương Hán Siêu là một nhà nho, quê ở làng Phúc Am, huyện
An Khánh, lộ Trường Yên (nay thuộc thành phố Ninh Bình). Biết
ông là người văn hay chữ tốt, kiến thức uyên bác, Trần Hưng Đạo
giao cho ông phụ trách viện văn thư trong vương phủ của mình.
Sau một thời gian, Trần Hưng Đạo tiến cử Trương Hán Siêu lên
nhà vua và được nhà vua trọng dụng.
22
Trương Hán Siêu được giao giữ chức
Hàn Lâm học sĩ và nhiều chức vụ quan
trọng khác trong hàng quan văn. Những
tác phẩm văn chương của ông rất nổi
tiếng, đặc biệt nhất là bài phú Bạch Đằng
Giang. Xúc động trước chiến công tuyệt
vời của quân dân Đại Việt đánh thắng
giặc Nguyên - Mông hung hãn, ông đã
sáng tác ra bài phú xuất chúng ấy và dành
những câu trân trọng để ca ngợi tài cầm
quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn.
23
Với những gia nô trong nhà, nếu có thực tài, Trần Hưng Đạo
đều tin cậy và giao phó trọng trách. Yết Kiêu là người có tài bơi
lặn lâu trong nước, còn Dã Tượng thì to lớn, khỏe mạnh. Cả hai
được Trần Hưng Đạo nuôi nấng, dạy dỗ chu đáo; bù lại, Yết Kiêu
và Dã Tượng cũng rất trung thành với ông. Dã Tượng là người
không rời Trần Hưng Đạo nửa bước, vừa sát cánh chiến đấu, vừa
bảo vệ chủ.
24
Còn Yết Kiêu, với tài bơi lặn, đã từng giúp Trần Hưng Đạo đục
đắm thuyền của quân Nguyên. Được giao trông coi thuyền chiến,
Yết Kiêu đã nêu tấm gương sáng không chỉ là lòng trung thành với
chủ mà còn là ý thức kỷ luật của người lính trước mệnh lệnh của
chủ tướng. Trong lần chống quân Nguyên năm 1285, quân giặc
tràn vào Lạng Sơn, quân Đại Việt không thể chống đỡ, đều đã rút
lui. Riêng Yết Kiêu bất chấp nguy hiểm, vẫn chống thuyền chờ
Trần Hưng Đạo và kịp thời đưa ông đi trước khi quân giặc ập đến.
25
Trần Hưng Đạo vô cùng cảm kích trước sự hi sinh của Yết
Kiêu và Dã Tượng. Ông cho rằng những người làm nên được
những chiến tích oai hùng đều phải nhờ đến những người dưới
quyền như Yết Kiêu và Dã Tượng. Ông đã ca ngợi họ qua câu
nói: “Chim hồng hộc (ám chỉ những người làm nên chiến tích)
có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh (ám chỉ
những người bình dân), nếu không thì chim hồng hộc cũng như
chim thường thôi”.
26
Việc Trần Hưng Đạo đánh giá cao vai trò của tầng lớp bình dân
lao động đã có ảnh hưởng đến vua Trần Nhân Tông. Nhà vua có
thái độ ân cần đối với tầng lớp này và bảo với các quan lại phải
biết đến công lao của họ: “Ngày thường ta có nhiều kẻ hầu người
hạ hai bên, nhưng khi nước nhà hoạn nạn thì chỉ có bọn họ đi theo
thôi”.
27
Nhưng Trần Hưng Đạo được mọi người quý trọng và theo về
không phải chỉ vì ông là người chủ độ lượng, mà hơn tất cả, chính
vì ông là người trung nghĩa, hết lòng vì nước vì dân. Khi quân
Nguyên sang xâm lấn Đại Việt, quyền bính nằm cả trong tay, nếu
thực hiện theo di chúc của cha thì đó là thời cơ thuận tiện nhất.
Nhưng ông đã không hành động gì mà còn tỏ rõ ý muốn xóa bỏ
hận thù. Một hôm, để tỏ ý kiên định và cũng để thử lòng người
thân cận, Trần Hưng Đạo họp các con cùng tướng tá, gia nô và
nhắc lại lời trăn trối của cha.
28
Hai gia nô tâm phúc là Yết Kiêu và Dã Tượng
khẳng khái bày tỏ ý nghĩ của mình:
- Đại vương quyền cao chức trọng như thế là
đủ lắm rồi, chúng tôi thà làm gia nô suốt đời chứ
không muốn làm quan mà mang tiếng là người
không trung nghĩa.
Các con của Trần Hưng Đạo cũng tán đồng:
- Việc cướp ngôi đối với người khác họ cũng
đã không nên làm, huống chi là anh em trong
cùng một dòng tộc.
29
Hưng Đạo vương rất hài lòng trước những lời nói đầy nghĩa
tình đó. Nhưng riêng người con trai thứ ba là Hưng Nhượng
vương Trần Quốc Tảng lại hung hăng lên tiếng:
- Vua Tống trước đây chỉ là một nông phu mà còn chớp được
thời cơ, cướp được thiên hạ, huống chi nhà ta là danh gia vọng tộc.
30
Những lời bạc tình bạc nghĩa này làm cho Trần Hưng Đạo rất
tức giận. Ông rút gươm định chém người con có lòng dạ bất trung
ấy, nhưng mọi người hết lòng can gián. Ông đành đuổi Trần Quốc
Tảng đi và truyền lệnh:
- Sau này khi ta chết phải đậy nắp quan tài mới cho nó vào
viếng.
31
Không những răn dạy con cháu trong nhà, Trần Hưng Đạo còn
chủ động hòa giải với anh em trong họ. Trong cư xử hàng ngày,
ông luôn giữ thái độ khiêm nhường, hòa mục. Tuy với địa vị
của mình, ông được phép ban thưởng chức tước cho người khác,
nhưng chưa bao giờ Trần Hưng Đạo sử dụng quyền hạn ấy. Lúc
giặc Nguyên xâm lấn, nhiều nhà giàu đóng góp lúa gạo, vũ khí
cho quân đội. Để động viên khuyến khích, ông cũng ban cho họ
chức Lang tướng nhưng chỉ tạm thời, chờ vua chuẩn y mới dám
quyết định.
32
Một lần vua Thánh Tông đi dẹp loạn Mán Bà La, có Trần
Quang Khải đi theo hộ giá. Lúc ấy sứ nhà Nguyên sang, Thượng
hoàng Trần Thái Tông cho vời Trần Hưng Đạo đến bảo:
- Nay Thượng tướng vắng mặt, trẫm muốn phong cho khanh
chức Tư đồ để ứng đối với Bắc sứ.
33
Vốn là người chính trực, không muốn có sự hiểu lầm rằng
mình lợi dụng lúc vua và Quang Khải đi vắng để tranh giành chức
tước, Trần Hưng Đạo liền tâu:
- Ứng tiếp sứ giả, thần không dám từ chối nhưng chức Tư đồ,
thần không dám nhận. Nay Quan gia(*) cùng Thượng tướng đi
đánh giặc nơi xa, bệ hạ lại tự ý làm việc phong chức thì tình nghĩa
trên dưới e rằng không ổn thỏa.
(*) Thời Trần gọi vua là Quan gia.
34
Bằng thái độ nhún nhường và trân trọng như thế, Trần Hưng
Đạo đã lấy lại lòng tin của vua và các anh em trong họ. Sử sách
còn ghi lại câu chuyện cảm động về tình cảm chân thành của Trần
Hưng Đạo với người em con chú là Trần Quang Khải. Một lần
Quang Khải có việc phải xuống thuyền của ông, ông đã lấy nước
thơm dội cho Quang Khải tắm để tỏ rõ tấm lòng thuận thảo của
mình. Trần Quang Khải rất xúc động trước cử chỉ ấy, và sau này,
hai người sát cánh bên nhau trong công cuộc chống quân Nguyên.
35
Sự hiềm khích trong nhà, trong hoàng tộc đã được giải quyết,
nhưng bóng mây nghi ngờ vẫn còn lởn vởn trong triều đình. Có
lần trong chuyến bảo vệ vua chạy lánh quân Nguyên, Trần Hưng
Đạo cầm theo chiếc gậy chống có mũi bịt sắt. Nhiều người lo lắng
sợ ông thừa cơ giết vua. Trần Hưng Đạo liền tháo mũi sắt ra vứt
đi và chỉ cầm gậy không. Vì thế không còn ai nghi ngờ ông nữa.
36
Bên cạnh những phẩm chất cao quý, Trần Hưng Đạo còn là
một vị tướng tài ba. Ông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần
đánh bại giặc Nguyên Mông hung hãn nhất bấy giờ. Vào năm
1258, quân Mông Cổ sang xâm lấn Đại Việt lần thứ nhất. Khi ấy
Trần Hưng Đạo chưa đến 30 tuổi. Ông được lệnh vua đem quân
thủy bộ đi trấn giữ biên giới phía Bắc. Ông đã xuất sắc hoàn thành
nhiệm vụ của mình, thông báo chính xác tình hình động binh của
quân giặc giúp triều đình kịp ứng phó.
37
Sau đó, ông đã rút quân về phối hợp với nhà vua chống giặc
ở Bình Lệ Nguyên và cuối cùng là tập kích giặc ở Đông Bộ Đầu
khiến chúng phải rút chạy về nước. Trong lần chống giặc này,
ông chưa giữ vai trò quyết định nhưng sự tận tụy, lòng quả cảm
và đức độ của vị tướng trẻ đã khiến Thái sư Trần Thủ Độ và vua
Thái Tông thêm tin tưởng vào lòng trung thành và tài cầm quân
của Trần Hưng Đạo.
38
Sau trận đại bại lần thứ nhất, quân Mông Cổ rất muốn phục thù
ngay, nhưng lúc đó, chúa Mông Cổ là Mông Kha chết. Hốt Tất
Liệt lên thay, đổi quốc hiệu là Nguyên. Nhà Nguyên lại tiến quân
xâm lược nhà Tống (Trung Quốc) nên chưa rảnh tay phục thù Đại
Việt. Tuy vậy, chúng vẫn liên tục cho sứ giả sang hạch sách vua
Trần, đòi phải tiến cống và sang chầu.
39
Lợi dụng tình thế ấy, nhà Trần đã cố gắng kéo dài thời kì hòa
hoãn để củng cố lực lượng. Thời gian này, Trần Hưng Đạo lại góp
phần mình trên mặt trận ngoại giao, thể hiện là một nhà ngoại giao
xuất sắc. Năm 1281, sứ giặc là Sài Thung đến nước ta, nghênh
ngang cưỡi ngựa vào tận thềm điện Tập Hiền. Thượng tướng Thái
sư Trần Quang Khải vào gặp, hắn nằm ngoảnh mặt vào trong,
không chịu tiếp.
40
Trần Hưng Đạo liền gọt tóc, ăn mặc như một nhà sư đến gặp
Thung. Thấy ông bước vào với phong thái ung dung, Thung tưởng
là một nhà sư phương Bắc, lật đật ngồi dậy tiếp. Sau nhận ra Trần
Hưng Đạo, y ra hiệu cho tên lính cầm mũi tên đâm vào đầu ông
đến chảy máu, nhưng ông vẫn không thay đổi sắc mặt. Thung rất
phục, tiếp đón Trần Hưng Đạo chu đáo, khi ông cáo từ, y theo ra
tận cửa để tiễn.
41
42
Qua những cuộc tiếp xúc ngoại giao như vậy, nhà Trần biết
được ý đồ của quân Nguyên muốn mượn đường tiến đánh Chiêm
Thành, nhưng thực chất là xâm lược Đại Việt. Vì vậy vào cuối
năm 1282, vua Trần triệu tập hội nghị các vương hầu để lên chiến
lược đối phó với quân Nguyên. Hôm ấy, tại bến Bình Than, gần
phủ đệ Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, thuyền chiến đậu san sát,
tinh kỳ phấp phới. Tất cả các vương hầu trong tôn thất nhà Trần
đều có mặt.
43
Ở đây, một lần nữa, Trần Hưng Đạo lại chứng tỏ mình là một
con người vì nước quên nhà. Mấy năm trước, Trần Khánh Dư vì
có quan hệ với con dâu sắp cưới của Trần Hưng Đạo nên bị vua
phạt lột bỏ hết chức tước phải về quê bán than. Nay trước nạn
nước, Trần Hưng Đạo sẵn sàng bỏ qua lỗi lầm của Khánh Dư,
chấp nhận để Khánh Dư lên thuyền cùng bàn việc nước.
44
Trần Khánh Dư đã không phụ lòng của Trần Hưng Đạo. Trong
khi các quan cứ bàn đi tính lại, người thì cho rằng cứ đem đồ tiến
cống để dùng kế hoãn binh, người lại sợ chiến tranh nên muốn để
quân Nguyên mượn đường... Cứ thế hai bên tranh cãi, không đi
đến quyết định nào thì Trần Khánh Dư tán đồng ý kiến của Trần
Hưng Đạo là phải cương quyết đem quân chống giữ các nơi hiểm
yếu.
45
Lập trường của Trần Hưng Đạo rất hợp ý Thượng hoàng Thánh
Tông và vua Nhân Tông. Ngài phong cho Trần Hưng Đạo làm
tổng chỉ huy quân đội với tước vị Quốc công Tiết chế. Lại phong
cho Trần Khánh Dư là Phó tướng phụ trách vùng biển Vân Đồn.
Nhận trọng trách, Trần Hưng Đạo đem hết sức mình ra gánh vác.
Yên tâm về mặt biển đã có Khánh Dư, ông ngày đêm thao luyện
quân sĩ, chỉnh đốn đội ngũ, sắm sửa khí giới, sẵn sàng chờ giặc.
46
Bên cạnh đó, để hun đúc tinh thần yêu nước, lòng can đảm
cho quân và dân, Trần Hưng Đạo đã viết bài hịch cho các tướng
sĩ. Bằng những lời lẽ thắm thiết, hùng hồn, bằng những phân
tích đanh thép mà chứa chan tình cảm, mỗi lời hịch của Trần
Hưng Đạo thấm thía đến từng con người: “Dẫu cho trăm thân
này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
cam lòng...”
47
Bài hịch của vị Quốc công Tiết chế đã khơi dậy lòng quyết
tâm đánh giặc của quân dân Đại Việt, lay động và thức tỉnh tất
cả những kẻ còn đang thờ ơ trước nạn nước. Không kìm được, cả
khối người đồng thanh hô to: Sát Thát! Sau đó tất cả tự nguyện
lấy chàm thích lên tay hai chữ này để tỏ rõ quyết tâm của mình.
“Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo thực sự là một áng thiên cổ
hùng văn, có giá trị lớn trong nền văn học nước nhà.
48
 





