Chủ đề năm học: 2025-2026:
```````````"Kỷ cương - sáng tạo - đột phá - phát triển"```````````
Giới thiệu sách tháng 11
Bài hát: Trang sách mở ra thế giới
Trang sách mở ra thế giới của thủy
Bản tin
Tuần lễ áo dài
Lịch sử VN bằng tranh 33

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 10h:32' 02-04-2025
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Thủy
Ngày gửi: 10h:32' 02-04-2025
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ 4
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Phan Thành Nam
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Giành được Nghệ An / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
88 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.33).
1. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 —Pictorical works.
959.70252 — dc 22
G433
LỜI GIỚI THIỆU
Nghĩa quân Lam Sơn sau một thời gian dài chuẩn bị lực lượng đã
chuyển sang giai đoạn thực hiện thắng lợi chiến lược do Nguyễn Chích
khởi xướng là chủ động tiến công vào Nghệ An, quyết giành một số
thắng lợi về quân sự để làm thay đổi tương quan giữa thế và lực giữa
đôi bên. Giai đoạn này được mở đầu bằng những sự kiện rất sôi động,
thể hiện khí thế mạnh mẽ và quyết tâm cao độ của Lam Sơn, đúng như
những câu hùng văn mà Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo:
“Trận Bồ Đằng: sấm vang chớp giật
Trận Trà Lân: trúc chẻ tro bay...”
(Trích Bình Ngô đại cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố)
Từ đây, địa bàn hoạt động của Lam Sơn vượt hẳn ra ngoài phạm
vi chật hẹp của vùng rừng núi phía tây Thanh Hóa. Cũng từ đây, Lam
Sơn nhanh chóng vươn lên làm chủ cả một miền đất rộng lớn và liên
hoàn, tương ứng với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày
nay. Như vậy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã dần dần chuyển thành một
cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô ngày càng lớn.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 33 của bộ Lịch sử
Việt Nam bằng tranh “Giành được Nghệ An” phần lời do Nguyễn
Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 33 của bộ Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Trong sách Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã ca ngợi
Nguyễn Chích:
“Không cần phải đánh mà hạ được thành Đông Đô,
lấy hòa hiếu để kết liễu chiến tranh, tuy là mưu kế của
Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để
thu lấy thắng lợi hoàn toàn, thực là bắt đầu từ Lê Chích [].
Chích là người xã Vạn Lộc, huyện Đông Sơn [thuộc tỉnh
Thanh Hóa bây giờ], theo vua đi đánh dẹp có nhiều chiến
công, sau trấn thủ Hóa châu, đánh phá Chiêm Thành, uy
danh vang dậy cả mặt nam, được tặng chức Tư thông, gia
tặng tước Hiến Quận công.”
(Kiến văn tiểu lục, quyển Tài phẩm, NXB Trẻ, 2013)
4
Từ ngày 10 tháng 4 năm Quý Mão (tức ngày 19 tháng 5 năm
1423), giai đoạn tạm thời hòa hoãn bắt đầu. Nhưng quân đô hộ
vẫn chưa thật sự an tâm, bởi lẽ chúng chưa rõ triều đình nhà Minh
liệu có chấp nhận quyết định này hay không. Để thuyết phục vua
Minh, chúng liên tục cho người về Yên Kinh bẩm báo và tâu trình
mọi việc.
5
Bấy giờ triều đình nhà Minh cũng đang gặp nhiều khó khăn
bởi cuộc chiến tranh với Thát Đát và Ngõa Thích (thuộc Mông
Cổ ngày nay). Dưới thời trị vì của mình, trong sáu lần đánh nhau,
Minh Thành Tổ (1403-1424) đã phải đích thân cầm quân tới
năm lần. Chỉ tính riêng cuộc chiến nổ ra năm 1422, nhà Minh đã
phải huy động 340.000 con lừa, 177.573 cỗ xe, 235.164 phu vận
chuyển và 370.000 thạch lương. Có thể nói, những năm 1422,
1423, 1424 là những năm kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến
tranh của nhà Minh.
6
Trước thực tế bi đát đó, vua Minh cũng muốn ngừng các cuộc
đàn áp có quy mô lớn ở nước ta, tạm chấp nhận đề nghị xin giảng
hòa với Lê Lợi. Tuy nhiên, vua Minh cũng không quên hạ lệnh
cho đám quan lại và tướng lĩnh đô hộ phải tìm cách để từng bước
làm tan rã lực lượng Lam Sơn và dụ hàng Lê Lợi cho bằng được.
Thực hiện chỉ dụ ấy, chúng cho quân chở lương thực, thực phẩm
và một số phương tiện sản xuất đến tặng để nhân đó, quan sát mọi
sự động tĩnh của Lam Sơn.
7
Biết rõ mưu mô của giặc, Lê
Lợi vừa tiếp đãi bọn sứ giả một
cách ân cần, vừa bí mật hạ lệnh
cho các tướng sĩ phải khéo cải
trang làm dân thường để che
mắt chúng. Tất cả lương thực,
thực phẩm và đặc biệt là vũ khí
đều được cất giấu thật cẩn thận.
Vì vậy, âm mưu tiến hành điều
tra của quân Minh không thu
được hiệu quả như chúng mong
muốn.
8
Tương kế tựu kế, Lê Lợi cũng mượn tiếng hòa hiếu và thân
thiện, cho sứ giả đến dinh trại của giặc để vừa tặng quà đáp lễ,
vừa nhân đó quan sát tình hình của đối phương. Nhiều người đã
được Lê Lợi trao trách nhiệm thực hiện sứ mạng đặc biệt khó
khăn này, nhưng người được cử làm sứ giả của Lê Lợi nhiều lần
nhất vẫn là Lê Trăn.
9
Để mua chuộc Lê Lợi và chia rẽ nghĩa quân, vua Minh còn ban
cho Lê Lợi chức Tri phủ Thanh Hóa(*). Đây là một chức vụ lớn,
giặc không dễ gì ban cho ai. Theo lẽ, Tri phủ Thanh Hóa phải ra
tận thành Thanh Hóa để làm việc, như vậy cũng có nghĩa là chấp
nhận sự giám sát thường xuyên của kẻ thù. Lê Lợi tuy không hề
từ chối chức tước mà vua Minh ban cho, nhưng lại khôn khéo tìm
đủ mọi lý do để ở lại Lam Sơn, quyết không xa rời nghĩa quân
của mình.
* Bấy giờ, phủ Thanh Hóa quản lĩnh tất cả ba châu, mỗi châu đều gồm 4
huyện và 7 huyện trực thuộc, tổng cộng là 19 huyện.
10
Để tránh những xung đột không cần thiết có thể xảy ra cho việc
Lê Lợi không đi nhận chức, Nguyễn Trãi đã nhân danh Lê Lợi,
gửi thư cho giặc, vừa “chân thành cảm ơn ân huệ của vua Minh”
vừa kín đáo bộc lộ chí lớn của chủ tướng: “Tôi một đời thích danh
tiết và trọng trung nghĩa, vì ghét tiểu nhân mà dám dấn thân trong
chốn hoạn nạn, dẫu trong cảnh gian nan nguy hiểm vẫn không
nhụt chí bình sinh”.
11
Trong khi phải lo đối phó với giặc, Lê Lợi vẫn không quên
nhiệm vụ cấp bách ngay khi trở về Lam Sơn là nhanh chóng tổ
chức sản xuất để có thật nhiều quân lương. Người chỉ huy công
việc này là Ngô Từ. Ông và cha ông là Ngô Kinh, hai đời nối nhau
làm gia nô cho gia đình Lê Lợi, vì thế họ nắm rất vững cung cách
tổ chức sản xuất rất có hiệu quả. Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa,
chính Ngô Từ cũng được Lê Lợi giao nhiệm vụ này.
12
Biết Lê Lợi là người có chí cả, tiền tài và danh vọng của quân
Minh không thể mua chuộc hay dụ dỗ được, anh hùng hào kiệt
và nghĩa sĩ bốn phương lại nô nức kéo về Lam Sơn tụ nghĩa. Họ
bắt đầu sự nghiệp của mình bằng việc sát cánh với Ngô Từ, ngày
đêm chăm lo sản xuất và luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chiến đấu.
13
Chỉ sau hai vụ mùa, quân lương của Lam Sơn đã rất dồi dào,
đủ để cung cấp cho lực lượng nghĩa quân trong một thời gian khá
dài. Lần này, việc tổ chức cất giấu được tiến hành cẩn thận hơn
trước. Ngoài ra, nhân dân các địa phương lân cận cũng hồ hởi
đóng góp cho Lam Sơn một khối lượng quân lương không nhỏ.
14
Để tránh sự dò xét của quân Minh, Lê Lợi chia nghĩa sĩ của
mình thành nhiều nhóm nhỏ khác nhau và bố trí mỗi nhóm ở một
nơi riêng biệt, trong đó có không ít nhóm ở cách Lam Sơn khá
xa. Bởi cách bố trí này, quân Minh không sao biết được tiềm lực
thật sự của Lam Sơn nên cũng không thể nắm bắt chính xác ý đồ
của Lê Lợi.
15
Từ Lam Sơn, Lê Lợi và các tướng ngày ngày bàn bạc và tổ chức
nhiều chuyến đi khảo sát khác nhau, chuẩn bị một cách chu đáo
cho mọi tình thế tiến thủ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhiều chiến
lũy nhỏ được xây đắp, nhiều địa điểm mai phục được chuẩn bị,
nhiều hình thức đánh giặc được tập luyện... Lam Sơn bừng bừng
khí thế của một cuộc xuất quân mới.
16
Cũng từ ngày giã từ Linh Sơn về lại Lam Sơn, tác giả của Bình
Ngô sách là Nguyễn Trãi lại ngày đêm trằn trọc nghĩ suy, quyết
giúp Lê Lợi và nghĩa quân để có những đòn tấn công bất ngờ
hơn, lợi hại hơn vào kẻ thù của dân tộc. Và tại Lam Sơn, Nguyễn
Trãi đã khai sinh chiến lược mang tên: “Đánh vào lòng người”
để nhanh chóng huy động được sức mạnh cũng như trí tuệ của tất
cả mọi người vào sự nghiệp cứu nước.
17
Khi tập hợp dân chúng,
Nguyễn Trãi chú ý trước hết đến
lớp người mà ông gọi là manh
và lệ tức là những người nghèo
khổ nhất. Ngoài quyết tâm đem
lại quyền lợi vật chất thiết thân,
Lam Sơn còn phải không ngừng
giúp họ nhận thức đầy đủ về đại
nghĩa của dân tộc, để chính họ
có thể tham gia một cách thật tự
nguyện vào sự nghiệp “lấy đại
nghĩa thắng hung tàn, lấy chí
nhân thay cường bạo”.
18
Đối với kẻ thù, chiến lược “đánh vào lòng người” được tiến hành
với phương thức chủ yếu là lợi dụng và khoét sâu vào những mâu
thuẫn vốn có trong nội bộ của chúng. Đó là việc bọn quan lại trong
triều đình nhà Minh chỉ biết ra sức hối thúc, bất kể khó khăn, gian
khổ và chết chóc của tướng lĩnh phải đem quân đi xâm lăng. Còn
ngay trong nội bộ bọn tướng lĩnh đi xâm lăng thì những tên phải
đóng quân ở xa như Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa...
luôn ganh tỵ với bọn đóng tại Thăng Long và các vị trí an toàn khác.
19
Với những người vì mơ hồ trong nhận thức ban đầu mà lỡ làm
tay sai cho giặc, hoặc giả là những người bị ép buộc phải cầm vũ
khí, đứng trong hàng ngũ của giặc thì từ Lam Sơn, hàng loạt bức
thư kêu gọi họ trở về với đại nghĩa dân tộc, liên tiếp được gởi đi
khắp nơi.
20
Cứ như vậy, chiến lược “đánh
vào lòng người” của Lam Sơn đã
gây được những tác động ngày càng
to lớn và mạnh mẽ đối với quân xâm
lăng và bè lũ tay sai của chúng; tấn
công một cách nguy hiểm và hiệu
quả vào những nơi mà quân Lam Sơn
chưa đủ khả năng để tấn công tới,
khiến cho nội bộ quân Minh dần dần
chia rẽ và nghi kỵ lẫn nhau.
21
Sau hơn một năm, thấy tiền tài không thể mua nổi Lê Lợi, chức
tước cũng không thể mê hoặc được ông, quân Minh dần dần thay
đổi thái độ. Từ hòa hiếu và thân thiện, giặc bắt đầu kiếm cớ để
gây hấn. Chúng ngang nhiên bắt giam Lê Trăn, vị sứ giả tin cậy
và có khả năng ứng đối của nghĩa quân Lam Sơn.
22
Đồng thời với việc bắt Lê Trăn, một số cuộc đàn áp với quy
mô nhỏ được tiến hành. Tình hình vùng Thanh Hóa ngày một
căng thẳng. Quân Minh tập trung về Thanh Hóa ngày một đông.
Lương thực, thực phẩm và khí giới được chúng chuyên chở về
Thanh Hóa ngày một nhiều. Các thành lũy của giặc nhanh chóng
được củng cố.
23
Mùa thu năm Giáp Thìn (1424), Trần Trí gởi thư về triều đình
nhà Minh nói rõ rằng: Lê Lợi tuy bề ngoài thì nói chuyện hòa
hiếu và thân thiện, nhưng bên trong lại đang âm thầm chuẩn bị
lực lượng để hễ có cơ hội thuận tiện thì nổi lên. Chí lớn của Lê
Lợi đã thể hiện ngày một rõ ràng, nếu không sớm toan liệu, sợ sẽ
gây nguy hại về sau.
24
Nhưng Minh Thành Tổ chưa kịp có kế sách thì đã qua đời vào
tháng 8 năm 1424. Vì trong nước còn nhiều khó khăn nên vua
kế vị là Minh Nhân Tông (1424-1425), phải hơn một tháng sau
khi lên ngôi mới ban hành chính sách cứng rắn đối với nước ta.
Tất cả những quy định được coi là “hòa hiếu và thân thiện” đều
lần lượt bị bãi bỏ, thay vào đó là các biện pháp áp bức, bóc lột
và khủng bố ngày một nặng nề. Và mục tiêu lớn nhất của chính
sách này là Lam Sơn.
25
Sau khi sứ giả Lam Sơn là Lê Trăn ngang nhiên bị quân Minh
bắt giữ, Lê Lợi cũng lập tức quyết định tuyệt giao với giặc, chấm
dứt hẳn thời kỳ “hòa hiếu và thân thiện”. Tháng 10 năm 1424,
tại Lam Sơn, một cuộc hội nghị quân sự cao cấp được triệu tập.
Tham dự cuộc hội nghị quan trọng này, ngoài các thành viên của
Bộ chỉ huy, Lê Lợi còn mời thêm một số tướng lĩnh, trong đó có
Nguyễn Chích.
26
Ông sinh năm 1382 tại thôn Mạc, huyện Đông Sơn (Thanh
Hóa), trong một gia đình nông dân nghèo. Mồ côi cha từ nhỏ, ông
phải đi chăn trâu ở vùng Hoàng Sơn và Nghiêu Sơn (nơi tiếp giáp
giữa Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay). Trước khi tham gia khởi
nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Chích từng phát động và lãnh đạo một
cuộc khởi nghĩa ở vùng đất
này và lập nên một khu căn
cứ rất lợi hại mà sử vẫn gọi
là căn cứ Hoàng Nghiêu.
Quân của ông đã nhiều
phen khiến giặc Minh phải
chống đỡ vất vả.
27
Năm 1420, trước sức cuốn hút ngày càng mạnh mẽ của cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Chích đã đem toàn bộ lực lượng
của mình theo về với Lê Lợi khiến cho sức mạnh của Lam Sơn
được tăng lên đáng kể. Nguyễn Chích được chỉ định làm tướng
tham mưu. Trải bốn năm đầy thử thách gian nan (từ năm 1420
đến năm 1424), Nguyễn Chích và các nghĩa sĩ cũ của ông đã anh
dũng chiến đấu và thực sự trung thành nên được Lê Lợi cùng Bộ
chỉ huy Lam Sơn rất tin tưởng.
28
Trong hội nghị quân sự lần này, Nguyễn Chích
đã góp một ý kiến xuất sắc mà sử vẫn gọi là chiến
lược Nguyễn Chích. Theo ông, nghĩa quân phải
tìm được chỗ đứng chân, tức là phải chiếm được
một vùng đồng bằng rộng lớn như Nghệ An mới
có thể huy động được sức người và sức của cho
cuộc chiến đấu lâu dài.
29
Ý kiến của Nguyễn Chích được Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các
tướng trong Bộ chỉ huy Lam Sơn nhiệt liệt tán thành. Ngay sau đó,
Lê Lợi hạ lệnh cho tất cả tướng sĩ gấp rút chuẩn bị tiến quân vào
Diễn Châu và Nghệ An, chỉ để lại một lực lượng nghi binh nhỏ
để giặc khỏi nghi ngờ. Còn Nguyễn Chích đã nắm vững đường
đi lối lại nên vừa dẫn đường vừa làm tướng tiên phong. Một giai
đoạn hoàn toàn mới của Lam Sơn bắt đầu: Giai đoạn liên tục tấn
công và liên tục giành thắng lợi.
30
31
Ngày 20 tháng 9 năm Giáp Thìn (tức ngày 12 tháng 10 năm
1424), quân Lam Sơn bất ngờ tấn công vào đồn Bồ Đằng(*). Đây
là đồn lũy mới nhất giặc vừa xây dựng trong thời kỳ tạm thời hòa
hoãn. Chúng hy vọng Bồ Đằng ở gần Lam Sơn sẽ dễ dàng chặn
đứng được hoạt động của nghĩa quân về phía nam. Quân Minh sai
tên ngụy quan là Lương Nhữ Hốt (lúc này đang giữ chức Tham
chính) trấn giữ ở đây.
* Trong thư tịch cổ, Bồ Đằng còn được chép là Bồ Tất, là Bất Căng hay Đa
Căng. Đất này nay thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
32
Bị tấn công bất ngờ, quân giặc ở Bồ Đằng hoảng hốt, không
kịp trở tay chống đỡ. Lam Sơn tiêu diệt tại chỗ hơn 1000 tên(*).
Lương Nhữ Hốt phải bỏ chạy. Được tin cấp báo, quân Minh lập
tức sai Hoa Anh, một tên tướng đã từng theo Trương Phụ sang
xâm lược nước ta và chỉ huy các đồn như Tây Đô, Cổ Lỗi và Nga
Lạc (tất cả đều thuộc Thanh Hóa ngày nay) đến tiếp cứu. Quân
cứu viện cũng bị Lam Sơn đánh cho tan tành, Hoa Anh bỏ chạy
về tận thành Tây Đô.
* Nay ở làng Chẩn Xuyên, xã Thọ Nguyên vẫn còn có một cánh
đồng mang tên Đồng Xác. Tương truyền đó là nơi chôn
xác giặc bị diệt tại đồn Bồ Đằng thuở ấy.
33
Bồ Đằng là trận tấn công có quy mô lớn đầu tiên của nghĩa quân
Lam Sơn trong giai đoạn thứ ba. Thắng lợi của trận Bồ Đằng có ý
nghĩa rất to lớn. Từ đây, Lam Sơn đã có thể vượt ra khỏi địa bàn
chật hẹp của mình ở phía tây Thanh Hóa để mở rộng chỗ đứng
chân. Lúc này, tinh thần chiến đấu của các tướng sĩ Lam Sơn lên rất
cao và ảnh hưởng của Lam Sơn cũng mau chóng lan ra khắp nơi.
34
Sau thất bại ở Bồ Đằng, quân
Minh đã nắm chắc kế hoạch
hành quân về phương nam của
Lam Sơn, vì thế chúng kết hợp
tấn công cả từ bắc vào lẫn từ nam ra, hòng vây chặt lực lượng
Lam Sơn ở nam Thanh Hóa và bắc Nghệ An để tiêu diệt. Mũi tấn
công từ bắc vào do Tổng binh Trần Trí đích thân chỉ huy. Dưới
trướng Trần Trí là một loạt các tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm
trận mạc như Phương Chính, Thái Phúc và Lý An. Xuất phát từ
Tây Đô, cánh quân này gấp rút hành quân về phía nam.
35
Mũi tấn công từ phía nam ra do viên tướng Minh là Sư Hựu
và tên ngụy quan chốt giữ thành Trà Lân là Cầm Bành chỉ huy.
Giặc dự tính dồn Lam Sơn vào vùng có địa hình phức tạp thuộc
khu vực xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay
để phối hợp cả hai cánh quân cùng tiêu diệt. Đây là mưu mô hết
sức nham hiểm của giặc.
36
Lê Lợi lập tức cho quân lợi dụng đêm tối, mai phục sẵn ở hai
bên sườn núi, đồng thời cho một bộ phận nhỏ ra khiêu chiến. Quả
nhiên, vì chủ quan có lực lượng mạnh, quân giặc từ hai phía kéo
tới truy đuổi ráo riết nên bị rơi vào chỗ mai phục. Một cuộc ác
chiến xảy ra. Quân Minh vì trời tối lại quá bất ngờ nên bị đại bại.
Giặc bị giết tại chỗ trên 2000 tên, trong số đó có cả tướng giữ
chức Đô ty là Trần Trung.
37
Giặc hốt hoảng tháo chạy tán loạn về hai ngả mà chúng vừa
kéo đến. Lê Lợi ung dung hạ lệnh cho quân sĩ xây thành để ngăn
chặn cánh quân từ phía bắc có thể đánh quật trở lại. Thành này,
nay thuộc địa phận xã Tam Hợp (Quỳ Hợp, Nghệ An), nhân dân
thường gọi là Bãi Dinh. Thành có cấu trúc hình thang vuông, đáy
ngắn 220m, đáy dài 290m, cạnh vuông 61,5m, bề còn lại chủ yếu
dựa vào vách núi. Với bức thành này, việc lưu thông giữa vùng
tây Thanh Hóa vào phía nam kể như bị khóa chặt, giặc rất khó
tiếp ứng cho nhau.
38
Sau đó, để lại một bộ phận chốt giữ ở Bãi Dinh, Lê Lợi đưa
lực lượng tiếp tục tiến về phía nam, mục tiêu đầu tiên là đánh vào
Trà Lân. Bấy giờ, Cầm Bành đã rút về cố thủ thành Trà Lân còn
Sư Hựu thì lập doanh trại ở Trịnh Sơn (nay thuộc xã Thạch Ngàn,
huyện Con Cuông, Nghệ An), án ngữ ngay đường tiến quân của
Lam Sơn. Muốn đánh Trà Lân, hiển nhiên Lam Sơn phải đánh
Trịnh Sơn trước.
39
Đây là một trận đặc biệt khó khăn bởi Trịnh Sơn chỉ cách Trà
Lân khoảng mười cây số, nếu không đánh nhanh diệt gọn thì giặc
ở Trà Lân sẽ lập tức ra tiếp ứng. Vì vậy, Lê Lợi hạ lệnh tuyệt đối
bí mật, đánh nghi binh Trà Lân rồi bất ngờ tấn công Trịnh Sơn.
Giặc chưa kịp chống đỡ thì đã thất bại. Lam Sơn tiêu diệt hơn
một ngàn tên, giết được tướng giặc là Thiên hộ Trương Bản. Sư
Hựu vội vã đem tàn quân tháo chạy về thành Nghệ An, bỏ mặc
Cầm Bành tại Trà Lân.
40
Thành Trà Lân nằm trên một ngọn đồi khá cao thuộc địa phận
xã Bồng Khê, huyện Con Cuông. Thành cấu trúc theo hình chữ á
( ) của Hán tự, gồm thứ tự từ ngoài vào là: rào tre, hào sâu và
thành cao. Chu vi thành tổng cộng chừng hai cây số (nay vẫn còn
dấu tích). Trong thành có hơn 1000 tên lính, chủ yếu là ngụy quân.
Cậy có quân đông, thành lũy kiên cố,
Cầm Bành đóng chặt cửa thành cố
thủ để chờ viện binh. Lê Lợi quyết
định cho quân xiết chặt vòng vây.
41
Bấy giờ quân Minh tập trung ở thành Nghệ An rất đông, biết
rõ Cầm Bành đang bị bao vây rất nguy khốn nhưng không dám
cho quân tiếp cứu. Giặc bày kế thương lượng hòng cứu nguy cho
Cầm Bành. Chúng thả Lê Trăn nhờ cầm thư trao cho Lê Lợi xin
nối lại việc giảng hòa. Lê Lợi cũng sai người viết thư, ý nói cũng
muốn cùng lực lượng của mình trở về Thanh Hóa, nhưng Cầm
Bành cố ý ngăn cản, xin cho người lên thuyết phục Cầm Bành
chịu mở đường cho đi. Thư viết xong được để trên bè chuối, thả
xuống suối cho trôi đến dinh trại giặc.
42
Nhận được thư, Phương Chính lập tức sai Trần
Đức Nhị đến thành Trà Lân buộc Cầm Bành phải
hòa giải với Lê Lợi. Bấy giờ Cầm Bành đã bị bao
vây hơn hai tháng, lương cạn, quân mỏi, nay nghe
nói hòa giải vội mở cửa thành. Bức hàng được thành
Trà Lân là một thắng lợi lớn của Lam Sơn. Từ đây,
Lam Sơn có thể khống chế được toàn bộ vùng rừng
núi và trung du ở phía tây Nghệ An và cả thành
Nghệ An. Sử cũ chép rằng, dân Nghệ An nô nức
hưởng ứng, đóng góp sức người sức của cho Lam
Sơn. Chỉ trong một thời gian rất ngắn đã có hơn
5000 người tình nguyện gia nhập nghĩa quân.
43
Sau khi lấy được thành Trà Lân, Lê Lợi vẫn mượn cớ giảng hòa,
sai sứ giả đi lại giao thiệp với quân Minh tại Nghệ An để ngầm
điều tra thực lực và cách bố phòng của chúng. Muốn có thời gian
củng cố lực lượng, Lê Lợi cho người đến nói với quân Minh là
mình có thù riêng với Tham chính Lương Nhữ Hốt nên lần trước
không thể nhận chức Tri phủ Thanh Hóa mà triều đình nhà Minh
đã ban cho, nay xin nhận chức Tri châu ở Trà Lân vậy.
44
Nhưng lúc này, vì muốn mau chóng ổn định tình hình Đại
Việt, triều đình nhà Minh đã cử Thượng thư bộ Binh là Trần Hiệp
sang cầm đầu chính quyền đô hộ ở nước ta. Trần Hiệp mang theo
chiếu chỉ của vua Minh cho Trần Trí vẫn được giữ chức Tổng binh
nhưng buộc phải tiêu diệt bằng được nghĩa quân Lam Sơn ngay
trong mùa xuân năm Bính Ngọ (1426). Đọc xong chiếu chỉ, Trần
Trí sợ hãi vội tập trung binh lực về thành Nghệ An để chuẩn bị
đánh vào Trà Lân.
45
Đứng trước cuộc đọ sức không cân xứng như vậy, Lê Lợi bàn
với các tướng: “Giặc đông, ta ít. Lấy ít mà đánh đông chỉ có ở
nơi hiểm yếu mới mong lập công. Binh pháp nói rằng phải nhử
người đến chứ đừng để người nhử mình”. Rồi ông giao cho tướng
Đinh Liệt chỉ huy 2000 quân tiến xuống đánh chiếm Đỗ Gia (thuộc
Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay). Đây là chỗ đất hiểm ở phía tây
nam, cách thành Nghệ An không xa. Đỗ Gia sẽ là gọng kìm thứ
hai, vừa buộc quân Minh chia sẻ lực lượng, vừa sẵn sàng phối hợp
để đánh thành Nghệ An.
46
Ngay sau khi chiếm được Đỗ Gia một
cách dễ dàng, Đinh Liệt cho quân lính lập
đồn dựng trại trên núi Linh Cảm. Nơi này
rất gần với điểm hợp lưu của sông Ngàn
Phố và sông Ngàn Sâu. Hai con sông này
cùng đổ nước vào sông La. Vì vậy, men
theo con sông này, Đinh Liệt có thể tổ
chức tấn công thành Nghệ An từ mặt nam
lên rất thuận lợi.
47
Lực lượng còn lại của Lam Sơn cũng rút gần hết khỏi thành
Trà Lân để xuống chiếm giữ vùng Khả Lưu (nay thuộc xã Vinh
Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An), cách Trà Lân chừng 40 cây số
về phía đông nam. Đây là một vùng rậm rạp rất tiện lợi cho việc
bố trí mai phục. Như vậy, hai gọng kìm của quân Lam Sơn đã
giương sẵn chờ giặc.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Phan Thành Nam
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Giành được Nghệ An / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
88 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.33).
1. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 —Pictorical works.
959.70252 — dc 22
G433
LỜI GIỚI THIỆU
Nghĩa quân Lam Sơn sau một thời gian dài chuẩn bị lực lượng đã
chuyển sang giai đoạn thực hiện thắng lợi chiến lược do Nguyễn Chích
khởi xướng là chủ động tiến công vào Nghệ An, quyết giành một số
thắng lợi về quân sự để làm thay đổi tương quan giữa thế và lực giữa
đôi bên. Giai đoạn này được mở đầu bằng những sự kiện rất sôi động,
thể hiện khí thế mạnh mẽ và quyết tâm cao độ của Lam Sơn, đúng như
những câu hùng văn mà Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo:
“Trận Bồ Đằng: sấm vang chớp giật
Trận Trà Lân: trúc chẻ tro bay...”
(Trích Bình Ngô đại cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố)
Từ đây, địa bàn hoạt động của Lam Sơn vượt hẳn ra ngoài phạm
vi chật hẹp của vùng rừng núi phía tây Thanh Hóa. Cũng từ đây, Lam
Sơn nhanh chóng vươn lên làm chủ cả một miền đất rộng lớn và liên
hoàn, tương ứng với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày
nay. Như vậy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã dần dần chuyển thành một
cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô ngày càng lớn.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 33 của bộ Lịch sử
Việt Nam bằng tranh “Giành được Nghệ An” phần lời do Nguyễn
Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 33 của bộ Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Trong sách Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã ca ngợi
Nguyễn Chích:
“Không cần phải đánh mà hạ được thành Đông Đô,
lấy hòa hiếu để kết liễu chiến tranh, tuy là mưu kế của
Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để
thu lấy thắng lợi hoàn toàn, thực là bắt đầu từ Lê Chích [].
Chích là người xã Vạn Lộc, huyện Đông Sơn [thuộc tỉnh
Thanh Hóa bây giờ], theo vua đi đánh dẹp có nhiều chiến
công, sau trấn thủ Hóa châu, đánh phá Chiêm Thành, uy
danh vang dậy cả mặt nam, được tặng chức Tư thông, gia
tặng tước Hiến Quận công.”
(Kiến văn tiểu lục, quyển Tài phẩm, NXB Trẻ, 2013)
4
Từ ngày 10 tháng 4 năm Quý Mão (tức ngày 19 tháng 5 năm
1423), giai đoạn tạm thời hòa hoãn bắt đầu. Nhưng quân đô hộ
vẫn chưa thật sự an tâm, bởi lẽ chúng chưa rõ triều đình nhà Minh
liệu có chấp nhận quyết định này hay không. Để thuyết phục vua
Minh, chúng liên tục cho người về Yên Kinh bẩm báo và tâu trình
mọi việc.
5
Bấy giờ triều đình nhà Minh cũng đang gặp nhiều khó khăn
bởi cuộc chiến tranh với Thát Đát và Ngõa Thích (thuộc Mông
Cổ ngày nay). Dưới thời trị vì của mình, trong sáu lần đánh nhau,
Minh Thành Tổ (1403-1424) đã phải đích thân cầm quân tới
năm lần. Chỉ tính riêng cuộc chiến nổ ra năm 1422, nhà Minh đã
phải huy động 340.000 con lừa, 177.573 cỗ xe, 235.164 phu vận
chuyển và 370.000 thạch lương. Có thể nói, những năm 1422,
1423, 1424 là những năm kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến
tranh của nhà Minh.
6
Trước thực tế bi đát đó, vua Minh cũng muốn ngừng các cuộc
đàn áp có quy mô lớn ở nước ta, tạm chấp nhận đề nghị xin giảng
hòa với Lê Lợi. Tuy nhiên, vua Minh cũng không quên hạ lệnh
cho đám quan lại và tướng lĩnh đô hộ phải tìm cách để từng bước
làm tan rã lực lượng Lam Sơn và dụ hàng Lê Lợi cho bằng được.
Thực hiện chỉ dụ ấy, chúng cho quân chở lương thực, thực phẩm
và một số phương tiện sản xuất đến tặng để nhân đó, quan sát mọi
sự động tĩnh của Lam Sơn.
7
Biết rõ mưu mô của giặc, Lê
Lợi vừa tiếp đãi bọn sứ giả một
cách ân cần, vừa bí mật hạ lệnh
cho các tướng sĩ phải khéo cải
trang làm dân thường để che
mắt chúng. Tất cả lương thực,
thực phẩm và đặc biệt là vũ khí
đều được cất giấu thật cẩn thận.
Vì vậy, âm mưu tiến hành điều
tra của quân Minh không thu
được hiệu quả như chúng mong
muốn.
8
Tương kế tựu kế, Lê Lợi cũng mượn tiếng hòa hiếu và thân
thiện, cho sứ giả đến dinh trại của giặc để vừa tặng quà đáp lễ,
vừa nhân đó quan sát tình hình của đối phương. Nhiều người đã
được Lê Lợi trao trách nhiệm thực hiện sứ mạng đặc biệt khó
khăn này, nhưng người được cử làm sứ giả của Lê Lợi nhiều lần
nhất vẫn là Lê Trăn.
9
Để mua chuộc Lê Lợi và chia rẽ nghĩa quân, vua Minh còn ban
cho Lê Lợi chức Tri phủ Thanh Hóa(*). Đây là một chức vụ lớn,
giặc không dễ gì ban cho ai. Theo lẽ, Tri phủ Thanh Hóa phải ra
tận thành Thanh Hóa để làm việc, như vậy cũng có nghĩa là chấp
nhận sự giám sát thường xuyên của kẻ thù. Lê Lợi tuy không hề
từ chối chức tước mà vua Minh ban cho, nhưng lại khôn khéo tìm
đủ mọi lý do để ở lại Lam Sơn, quyết không xa rời nghĩa quân
của mình.
* Bấy giờ, phủ Thanh Hóa quản lĩnh tất cả ba châu, mỗi châu đều gồm 4
huyện và 7 huyện trực thuộc, tổng cộng là 19 huyện.
10
Để tránh những xung đột không cần thiết có thể xảy ra cho việc
Lê Lợi không đi nhận chức, Nguyễn Trãi đã nhân danh Lê Lợi,
gửi thư cho giặc, vừa “chân thành cảm ơn ân huệ của vua Minh”
vừa kín đáo bộc lộ chí lớn của chủ tướng: “Tôi một đời thích danh
tiết và trọng trung nghĩa, vì ghét tiểu nhân mà dám dấn thân trong
chốn hoạn nạn, dẫu trong cảnh gian nan nguy hiểm vẫn không
nhụt chí bình sinh”.
11
Trong khi phải lo đối phó với giặc, Lê Lợi vẫn không quên
nhiệm vụ cấp bách ngay khi trở về Lam Sơn là nhanh chóng tổ
chức sản xuất để có thật nhiều quân lương. Người chỉ huy công
việc này là Ngô Từ. Ông và cha ông là Ngô Kinh, hai đời nối nhau
làm gia nô cho gia đình Lê Lợi, vì thế họ nắm rất vững cung cách
tổ chức sản xuất rất có hiệu quả. Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa,
chính Ngô Từ cũng được Lê Lợi giao nhiệm vụ này.
12
Biết Lê Lợi là người có chí cả, tiền tài và danh vọng của quân
Minh không thể mua chuộc hay dụ dỗ được, anh hùng hào kiệt
và nghĩa sĩ bốn phương lại nô nức kéo về Lam Sơn tụ nghĩa. Họ
bắt đầu sự nghiệp của mình bằng việc sát cánh với Ngô Từ, ngày
đêm chăm lo sản xuất và luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chiến đấu.
13
Chỉ sau hai vụ mùa, quân lương của Lam Sơn đã rất dồi dào,
đủ để cung cấp cho lực lượng nghĩa quân trong một thời gian khá
dài. Lần này, việc tổ chức cất giấu được tiến hành cẩn thận hơn
trước. Ngoài ra, nhân dân các địa phương lân cận cũng hồ hởi
đóng góp cho Lam Sơn một khối lượng quân lương không nhỏ.
14
Để tránh sự dò xét của quân Minh, Lê Lợi chia nghĩa sĩ của
mình thành nhiều nhóm nhỏ khác nhau và bố trí mỗi nhóm ở một
nơi riêng biệt, trong đó có không ít nhóm ở cách Lam Sơn khá
xa. Bởi cách bố trí này, quân Minh không sao biết được tiềm lực
thật sự của Lam Sơn nên cũng không thể nắm bắt chính xác ý đồ
của Lê Lợi.
15
Từ Lam Sơn, Lê Lợi và các tướng ngày ngày bàn bạc và tổ chức
nhiều chuyến đi khảo sát khác nhau, chuẩn bị một cách chu đáo
cho mọi tình thế tiến thủ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhiều chiến
lũy nhỏ được xây đắp, nhiều địa điểm mai phục được chuẩn bị,
nhiều hình thức đánh giặc được tập luyện... Lam Sơn bừng bừng
khí thế của một cuộc xuất quân mới.
16
Cũng từ ngày giã từ Linh Sơn về lại Lam Sơn, tác giả của Bình
Ngô sách là Nguyễn Trãi lại ngày đêm trằn trọc nghĩ suy, quyết
giúp Lê Lợi và nghĩa quân để có những đòn tấn công bất ngờ
hơn, lợi hại hơn vào kẻ thù của dân tộc. Và tại Lam Sơn, Nguyễn
Trãi đã khai sinh chiến lược mang tên: “Đánh vào lòng người”
để nhanh chóng huy động được sức mạnh cũng như trí tuệ của tất
cả mọi người vào sự nghiệp cứu nước.
17
Khi tập hợp dân chúng,
Nguyễn Trãi chú ý trước hết đến
lớp người mà ông gọi là manh
và lệ tức là những người nghèo
khổ nhất. Ngoài quyết tâm đem
lại quyền lợi vật chất thiết thân,
Lam Sơn còn phải không ngừng
giúp họ nhận thức đầy đủ về đại
nghĩa của dân tộc, để chính họ
có thể tham gia một cách thật tự
nguyện vào sự nghiệp “lấy đại
nghĩa thắng hung tàn, lấy chí
nhân thay cường bạo”.
18
Đối với kẻ thù, chiến lược “đánh vào lòng người” được tiến hành
với phương thức chủ yếu là lợi dụng và khoét sâu vào những mâu
thuẫn vốn có trong nội bộ của chúng. Đó là việc bọn quan lại trong
triều đình nhà Minh chỉ biết ra sức hối thúc, bất kể khó khăn, gian
khổ và chết chóc của tướng lĩnh phải đem quân đi xâm lăng. Còn
ngay trong nội bộ bọn tướng lĩnh đi xâm lăng thì những tên phải
đóng quân ở xa như Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa...
luôn ganh tỵ với bọn đóng tại Thăng Long và các vị trí an toàn khác.
19
Với những người vì mơ hồ trong nhận thức ban đầu mà lỡ làm
tay sai cho giặc, hoặc giả là những người bị ép buộc phải cầm vũ
khí, đứng trong hàng ngũ của giặc thì từ Lam Sơn, hàng loạt bức
thư kêu gọi họ trở về với đại nghĩa dân tộc, liên tiếp được gởi đi
khắp nơi.
20
Cứ như vậy, chiến lược “đánh
vào lòng người” của Lam Sơn đã
gây được những tác động ngày càng
to lớn và mạnh mẽ đối với quân xâm
lăng và bè lũ tay sai của chúng; tấn
công một cách nguy hiểm và hiệu
quả vào những nơi mà quân Lam Sơn
chưa đủ khả năng để tấn công tới,
khiến cho nội bộ quân Minh dần dần
chia rẽ và nghi kỵ lẫn nhau.
21
Sau hơn một năm, thấy tiền tài không thể mua nổi Lê Lợi, chức
tước cũng không thể mê hoặc được ông, quân Minh dần dần thay
đổi thái độ. Từ hòa hiếu và thân thiện, giặc bắt đầu kiếm cớ để
gây hấn. Chúng ngang nhiên bắt giam Lê Trăn, vị sứ giả tin cậy
và có khả năng ứng đối của nghĩa quân Lam Sơn.
22
Đồng thời với việc bắt Lê Trăn, một số cuộc đàn áp với quy
mô nhỏ được tiến hành. Tình hình vùng Thanh Hóa ngày một
căng thẳng. Quân Minh tập trung về Thanh Hóa ngày một đông.
Lương thực, thực phẩm và khí giới được chúng chuyên chở về
Thanh Hóa ngày một nhiều. Các thành lũy của giặc nhanh chóng
được củng cố.
23
Mùa thu năm Giáp Thìn (1424), Trần Trí gởi thư về triều đình
nhà Minh nói rõ rằng: Lê Lợi tuy bề ngoài thì nói chuyện hòa
hiếu và thân thiện, nhưng bên trong lại đang âm thầm chuẩn bị
lực lượng để hễ có cơ hội thuận tiện thì nổi lên. Chí lớn của Lê
Lợi đã thể hiện ngày một rõ ràng, nếu không sớm toan liệu, sợ sẽ
gây nguy hại về sau.
24
Nhưng Minh Thành Tổ chưa kịp có kế sách thì đã qua đời vào
tháng 8 năm 1424. Vì trong nước còn nhiều khó khăn nên vua
kế vị là Minh Nhân Tông (1424-1425), phải hơn một tháng sau
khi lên ngôi mới ban hành chính sách cứng rắn đối với nước ta.
Tất cả những quy định được coi là “hòa hiếu và thân thiện” đều
lần lượt bị bãi bỏ, thay vào đó là các biện pháp áp bức, bóc lột
và khủng bố ngày một nặng nề. Và mục tiêu lớn nhất của chính
sách này là Lam Sơn.
25
Sau khi sứ giả Lam Sơn là Lê Trăn ngang nhiên bị quân Minh
bắt giữ, Lê Lợi cũng lập tức quyết định tuyệt giao với giặc, chấm
dứt hẳn thời kỳ “hòa hiếu và thân thiện”. Tháng 10 năm 1424,
tại Lam Sơn, một cuộc hội nghị quân sự cao cấp được triệu tập.
Tham dự cuộc hội nghị quan trọng này, ngoài các thành viên của
Bộ chỉ huy, Lê Lợi còn mời thêm một số tướng lĩnh, trong đó có
Nguyễn Chích.
26
Ông sinh năm 1382 tại thôn Mạc, huyện Đông Sơn (Thanh
Hóa), trong một gia đình nông dân nghèo. Mồ côi cha từ nhỏ, ông
phải đi chăn trâu ở vùng Hoàng Sơn và Nghiêu Sơn (nơi tiếp giáp
giữa Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay). Trước khi tham gia khởi
nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Chích từng phát động và lãnh đạo một
cuộc khởi nghĩa ở vùng đất
này và lập nên một khu căn
cứ rất lợi hại mà sử vẫn gọi
là căn cứ Hoàng Nghiêu.
Quân của ông đã nhiều
phen khiến giặc Minh phải
chống đỡ vất vả.
27
Năm 1420, trước sức cuốn hút ngày càng mạnh mẽ của cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Chích đã đem toàn bộ lực lượng
của mình theo về với Lê Lợi khiến cho sức mạnh của Lam Sơn
được tăng lên đáng kể. Nguyễn Chích được chỉ định làm tướng
tham mưu. Trải bốn năm đầy thử thách gian nan (từ năm 1420
đến năm 1424), Nguyễn Chích và các nghĩa sĩ cũ của ông đã anh
dũng chiến đấu và thực sự trung thành nên được Lê Lợi cùng Bộ
chỉ huy Lam Sơn rất tin tưởng.
28
Trong hội nghị quân sự lần này, Nguyễn Chích
đã góp một ý kiến xuất sắc mà sử vẫn gọi là chiến
lược Nguyễn Chích. Theo ông, nghĩa quân phải
tìm được chỗ đứng chân, tức là phải chiếm được
một vùng đồng bằng rộng lớn như Nghệ An mới
có thể huy động được sức người và sức của cho
cuộc chiến đấu lâu dài.
29
Ý kiến của Nguyễn Chích được Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các
tướng trong Bộ chỉ huy Lam Sơn nhiệt liệt tán thành. Ngay sau đó,
Lê Lợi hạ lệnh cho tất cả tướng sĩ gấp rút chuẩn bị tiến quân vào
Diễn Châu và Nghệ An, chỉ để lại một lực lượng nghi binh nhỏ
để giặc khỏi nghi ngờ. Còn Nguyễn Chích đã nắm vững đường
đi lối lại nên vừa dẫn đường vừa làm tướng tiên phong. Một giai
đoạn hoàn toàn mới của Lam Sơn bắt đầu: Giai đoạn liên tục tấn
công và liên tục giành thắng lợi.
30
31
Ngày 20 tháng 9 năm Giáp Thìn (tức ngày 12 tháng 10 năm
1424), quân Lam Sơn bất ngờ tấn công vào đồn Bồ Đằng(*). Đây
là đồn lũy mới nhất giặc vừa xây dựng trong thời kỳ tạm thời hòa
hoãn. Chúng hy vọng Bồ Đằng ở gần Lam Sơn sẽ dễ dàng chặn
đứng được hoạt động của nghĩa quân về phía nam. Quân Minh sai
tên ngụy quan là Lương Nhữ Hốt (lúc này đang giữ chức Tham
chính) trấn giữ ở đây.
* Trong thư tịch cổ, Bồ Đằng còn được chép là Bồ Tất, là Bất Căng hay Đa
Căng. Đất này nay thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
32
Bị tấn công bất ngờ, quân giặc ở Bồ Đằng hoảng hốt, không
kịp trở tay chống đỡ. Lam Sơn tiêu diệt tại chỗ hơn 1000 tên(*).
Lương Nhữ Hốt phải bỏ chạy. Được tin cấp báo, quân Minh lập
tức sai Hoa Anh, một tên tướng đã từng theo Trương Phụ sang
xâm lược nước ta và chỉ huy các đồn như Tây Đô, Cổ Lỗi và Nga
Lạc (tất cả đều thuộc Thanh Hóa ngày nay) đến tiếp cứu. Quân
cứu viện cũng bị Lam Sơn đánh cho tan tành, Hoa Anh bỏ chạy
về tận thành Tây Đô.
* Nay ở làng Chẩn Xuyên, xã Thọ Nguyên vẫn còn có một cánh
đồng mang tên Đồng Xác. Tương truyền đó là nơi chôn
xác giặc bị diệt tại đồn Bồ Đằng thuở ấy.
33
Bồ Đằng là trận tấn công có quy mô lớn đầu tiên của nghĩa quân
Lam Sơn trong giai đoạn thứ ba. Thắng lợi của trận Bồ Đằng có ý
nghĩa rất to lớn. Từ đây, Lam Sơn đã có thể vượt ra khỏi địa bàn
chật hẹp của mình ở phía tây Thanh Hóa để mở rộng chỗ đứng
chân. Lúc này, tinh thần chiến đấu của các tướng sĩ Lam Sơn lên rất
cao và ảnh hưởng của Lam Sơn cũng mau chóng lan ra khắp nơi.
34
Sau thất bại ở Bồ Đằng, quân
Minh đã nắm chắc kế hoạch
hành quân về phương nam của
Lam Sơn, vì thế chúng kết hợp
tấn công cả từ bắc vào lẫn từ nam ra, hòng vây chặt lực lượng
Lam Sơn ở nam Thanh Hóa và bắc Nghệ An để tiêu diệt. Mũi tấn
công từ bắc vào do Tổng binh Trần Trí đích thân chỉ huy. Dưới
trướng Trần Trí là một loạt các tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm
trận mạc như Phương Chính, Thái Phúc và Lý An. Xuất phát từ
Tây Đô, cánh quân này gấp rút hành quân về phía nam.
35
Mũi tấn công từ phía nam ra do viên tướng Minh là Sư Hựu
và tên ngụy quan chốt giữ thành Trà Lân là Cầm Bành chỉ huy.
Giặc dự tính dồn Lam Sơn vào vùng có địa hình phức tạp thuộc
khu vực xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay
để phối hợp cả hai cánh quân cùng tiêu diệt. Đây là mưu mô hết
sức nham hiểm của giặc.
36
Lê Lợi lập tức cho quân lợi dụng đêm tối, mai phục sẵn ở hai
bên sườn núi, đồng thời cho một bộ phận nhỏ ra khiêu chiến. Quả
nhiên, vì chủ quan có lực lượng mạnh, quân giặc từ hai phía kéo
tới truy đuổi ráo riết nên bị rơi vào chỗ mai phục. Một cuộc ác
chiến xảy ra. Quân Minh vì trời tối lại quá bất ngờ nên bị đại bại.
Giặc bị giết tại chỗ trên 2000 tên, trong số đó có cả tướng giữ
chức Đô ty là Trần Trung.
37
Giặc hốt hoảng tháo chạy tán loạn về hai ngả mà chúng vừa
kéo đến. Lê Lợi ung dung hạ lệnh cho quân sĩ xây thành để ngăn
chặn cánh quân từ phía bắc có thể đánh quật trở lại. Thành này,
nay thuộc địa phận xã Tam Hợp (Quỳ Hợp, Nghệ An), nhân dân
thường gọi là Bãi Dinh. Thành có cấu trúc hình thang vuông, đáy
ngắn 220m, đáy dài 290m, cạnh vuông 61,5m, bề còn lại chủ yếu
dựa vào vách núi. Với bức thành này, việc lưu thông giữa vùng
tây Thanh Hóa vào phía nam kể như bị khóa chặt, giặc rất khó
tiếp ứng cho nhau.
38
Sau đó, để lại một bộ phận chốt giữ ở Bãi Dinh, Lê Lợi đưa
lực lượng tiếp tục tiến về phía nam, mục tiêu đầu tiên là đánh vào
Trà Lân. Bấy giờ, Cầm Bành đã rút về cố thủ thành Trà Lân còn
Sư Hựu thì lập doanh trại ở Trịnh Sơn (nay thuộc xã Thạch Ngàn,
huyện Con Cuông, Nghệ An), án ngữ ngay đường tiến quân của
Lam Sơn. Muốn đánh Trà Lân, hiển nhiên Lam Sơn phải đánh
Trịnh Sơn trước.
39
Đây là một trận đặc biệt khó khăn bởi Trịnh Sơn chỉ cách Trà
Lân khoảng mười cây số, nếu không đánh nhanh diệt gọn thì giặc
ở Trà Lân sẽ lập tức ra tiếp ứng. Vì vậy, Lê Lợi hạ lệnh tuyệt đối
bí mật, đánh nghi binh Trà Lân rồi bất ngờ tấn công Trịnh Sơn.
Giặc chưa kịp chống đỡ thì đã thất bại. Lam Sơn tiêu diệt hơn
một ngàn tên, giết được tướng giặc là Thiên hộ Trương Bản. Sư
Hựu vội vã đem tàn quân tháo chạy về thành Nghệ An, bỏ mặc
Cầm Bành tại Trà Lân.
40
Thành Trà Lân nằm trên một ngọn đồi khá cao thuộc địa phận
xã Bồng Khê, huyện Con Cuông. Thành cấu trúc theo hình chữ á
( ) của Hán tự, gồm thứ tự từ ngoài vào là: rào tre, hào sâu và
thành cao. Chu vi thành tổng cộng chừng hai cây số (nay vẫn còn
dấu tích). Trong thành có hơn 1000 tên lính, chủ yếu là ngụy quân.
Cậy có quân đông, thành lũy kiên cố,
Cầm Bành đóng chặt cửa thành cố
thủ để chờ viện binh. Lê Lợi quyết
định cho quân xiết chặt vòng vây.
41
Bấy giờ quân Minh tập trung ở thành Nghệ An rất đông, biết
rõ Cầm Bành đang bị bao vây rất nguy khốn nhưng không dám
cho quân tiếp cứu. Giặc bày kế thương lượng hòng cứu nguy cho
Cầm Bành. Chúng thả Lê Trăn nhờ cầm thư trao cho Lê Lợi xin
nối lại việc giảng hòa. Lê Lợi cũng sai người viết thư, ý nói cũng
muốn cùng lực lượng của mình trở về Thanh Hóa, nhưng Cầm
Bành cố ý ngăn cản, xin cho người lên thuyết phục Cầm Bành
chịu mở đường cho đi. Thư viết xong được để trên bè chuối, thả
xuống suối cho trôi đến dinh trại giặc.
42
Nhận được thư, Phương Chính lập tức sai Trần
Đức Nhị đến thành Trà Lân buộc Cầm Bành phải
hòa giải với Lê Lợi. Bấy giờ Cầm Bành đã bị bao
vây hơn hai tháng, lương cạn, quân mỏi, nay nghe
nói hòa giải vội mở cửa thành. Bức hàng được thành
Trà Lân là một thắng lợi lớn của Lam Sơn. Từ đây,
Lam Sơn có thể khống chế được toàn bộ vùng rừng
núi và trung du ở phía tây Nghệ An và cả thành
Nghệ An. Sử cũ chép rằng, dân Nghệ An nô nức
hưởng ứng, đóng góp sức người sức của cho Lam
Sơn. Chỉ trong một thời gian rất ngắn đã có hơn
5000 người tình nguyện gia nhập nghĩa quân.
43
Sau khi lấy được thành Trà Lân, Lê Lợi vẫn mượn cớ giảng hòa,
sai sứ giả đi lại giao thiệp với quân Minh tại Nghệ An để ngầm
điều tra thực lực và cách bố phòng của chúng. Muốn có thời gian
củng cố lực lượng, Lê Lợi cho người đến nói với quân Minh là
mình có thù riêng với Tham chính Lương Nhữ Hốt nên lần trước
không thể nhận chức Tri phủ Thanh Hóa mà triều đình nhà Minh
đã ban cho, nay xin nhận chức Tri châu ở Trà Lân vậy.
44
Nhưng lúc này, vì muốn mau chóng ổn định tình hình Đại
Việt, triều đình nhà Minh đã cử Thượng thư bộ Binh là Trần Hiệp
sang cầm đầu chính quyền đô hộ ở nước ta. Trần Hiệp mang theo
chiếu chỉ của vua Minh cho Trần Trí vẫn được giữ chức Tổng binh
nhưng buộc phải tiêu diệt bằng được nghĩa quân Lam Sơn ngay
trong mùa xuân năm Bính Ngọ (1426). Đọc xong chiếu chỉ, Trần
Trí sợ hãi vội tập trung binh lực về thành Nghệ An để chuẩn bị
đánh vào Trà Lân.
45
Đứng trước cuộc đọ sức không cân xứng như vậy, Lê Lợi bàn
với các tướng: “Giặc đông, ta ít. Lấy ít mà đánh đông chỉ có ở
nơi hiểm yếu mới mong lập công. Binh pháp nói rằng phải nhử
người đến chứ đừng để người nhử mình”. Rồi ông giao cho tướng
Đinh Liệt chỉ huy 2000 quân tiến xuống đánh chiếm Đỗ Gia (thuộc
Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay). Đây là chỗ đất hiểm ở phía tây
nam, cách thành Nghệ An không xa. Đỗ Gia sẽ là gọng kìm thứ
hai, vừa buộc quân Minh chia sẻ lực lượng, vừa sẵn sàng phối hợp
để đánh thành Nghệ An.
46
Ngay sau khi chiếm được Đỗ Gia một
cách dễ dàng, Đinh Liệt cho quân lính lập
đồn dựng trại trên núi Linh Cảm. Nơi này
rất gần với điểm hợp lưu của sông Ngàn
Phố và sông Ngàn Sâu. Hai con sông này
cùng đổ nước vào sông La. Vì vậy, men
theo con sông này, Đinh Liệt có thể tổ
chức tấn công thành Nghệ An từ mặt nam
lên rất thuận lợi.
47
Lực lượng còn lại của Lam Sơn cũng rút gần hết khỏi thành
Trà Lân để xuống chiếm giữ vùng Khả Lưu (nay thuộc xã Vinh
Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An), cách Trà Lân chừng 40 cây số
về phía đông nam. Đây là một vùng rậm rạp rất tiện lợi cho việc
bố trí mai phục. Như vậy, hai gọng kìm của quân Lam Sơn đã
giương sẵn chờ giặc.
48
 





